Đèn cù và cái nhìn lạc lối của Trần Đĩnh

Đèn Cù của Trần Đĩnh

Với những con người đã trải qua thời gian của lịch sử, là chứng nhân của các sự kiện lịch sử quan trọng về cuối đời họ thường hoài niệm, ngẫm lại những gì đã qua để viết lên những trang hồi ký, những dòng hoài niệm. Không ít những những cuốn hồi ký, những tác phẩm văn chương đã được các bậc tiền nhân viết ra từ những dòng lịch sử như vậy. Tuy nhiên, gần đây có một số người, cũng được xem là đã từng trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử, cũng từng được xem là biết những câu chuyện mà người khác chưa được nghe từ lịch sử để cho ra đời những cuốn hồi ký, tác phẩm văn chương nhưng lại nhìn nhận, đánh giá một cách thiển cận, phiến diện, thậm chí là xuyên tác trắng trợn lịch sử. “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức và “Đèn Cù” của Trần Đĩnh là những tác phẩm như vậy.
Khỏi phải nói cái tài xuyên tạc, bôi đen lịch sử của Huy Đức giỏi như thế nào trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”, từng được biết đến là trợ lý của một số đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Huy Đức cũng được tiếp cận những thông tin, tài liệu cơ mật, nhưng với bản chất cơ hội, vì đồng tiền, Huy Đức sẵn sàng bán rẻ lương tri, nhân cách để cho ra đời một cuốn sách bôi đen lịch sử, bôi đen các đồng chí lãnh đạo. Vì thế, mà sau khi tác phẩm ra đời, “Bên Thắng Cuộc” cả Huy Đức đã bị mọi người “ném đá” cho te tua. Tưởng rằng, Trần Đĩnh sẽ lấy Huy Đức làm bài học, nhưng nào ngờ, Trần Đĩnh tưởng rằng Huy Đức kiếm được bộn tiền nhờ xuất bản cuốn sách “Bên Thắng Cuộc”, ông ta đã cho ra đời cuốn sách “Đèn Cù”, với nội dung cũng chẳng khác “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là bao. Vẫn là cái giọng điệu thù hằn, đổi trắng thay đen, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc những người lãnh đạo với mục đích hạ bệ thần tượng, Trần Đĩnh nghĩ rằng, cuốn sách ra đời sẽ lừa được giới trẻ - những người chưa hiểu hết về lịch sử để kiếm chác ít tiền kiếm sống. Nhưng cuối cùng bản chất của một kẻ cơ hội cũng đã bị lật tẩy.
Từngmột nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật, từng tự nhận mình là người viết hồi ký cho Hồ Chí Minh, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm; từng được Đảng, Nhà nước quan tâm cho đi học ở nước ngoài để về xây dựng đất nước, nhưng với bản chất cơ hội, Trần Đĩnh đã tham gia vào nhóm chống lại Đảng, Nhà nước, đòi xét lại chủ trương, đường lối của Đảng, bởi vậy ông đã phải đi cải tạo lao động. Nhưng vẫn chứng nào tật đấy, Trần Đĩnh không những không chịu cải tạo mà còn có các hành động vi phạm khác, và năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính vì thái độ thù hằn nên trong mắt Trần Đĩnh ai ông ta cũng có thể nói xấu. Khi nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong cuốn sách của mình Trần Đĩnh viết: "Giáp là con nuôi mật thám Marty, vào đảng man, nịnh Cụ Hồ để Cụ o bế" (tr67). 

Khi nói về Văn Tiến Dũng hay ông Đỗ Mười: “Dũng thợ may gần công nhân hơn Thái. Hay sau này Đỗ Mười thợ sơn, thợ hoạn lợn thì ưu tú hơn đứa được học cao” (tr93). Về Tố Hữu và Xuân Diệu: “Tố Hữu một trưa dậy ra suối giặt quần đùi. Ca cẩm với Kim Lân: - Xuân Diệu nó mó máy mà tuột bu nó mất xích, mệt quá! Mà hai hôm nay lại cơm ăn toàn với măng.” (tr30).
Đến cả cụ Hồ mà Trần Đĩnh cũng dùng những ngôn từ xấu xa, “vô đạo” để nói về Người, Trần Đĩnh bịa ra câu chuyện cụ Hồ cùng ông Trường Chinh đi dự buổi xử tử bà Nguyễn Thị Năm - Cát Long Hanh “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”.(tr82). Còn đời tư thì vợ này vợ nọ, nhân tình, nhân ngãi như cô X, cô Y ở Cao Bằng, Móng Cái… Có đoạn, Trần Đĩnh viết thế này: “Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M. (Phương Mai) đến nữa. Chắc máy cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”. (tr28).
Không biết khi viết lên những dòng xuyên tạc, bịa đặt kia, Trần Đĩnh nghĩ rằng mình sẽ lừa được ai, ai sẽ tin Trần Đĩnh? Chỉ cần biết rằng, cũng như Huy Đức, Trần Đĩnh đã lộ rõ bộ mặt phản bội, cơ hội với cái nhìn lạc lối của mình. Thật đáng buồn cho những con người như thế.

                                                                                 Lâm Trấn
Read more…

Thế nào là báo “chính thống”, báo “không chính thống”?

Thông báo của UBND tỉnh Bình Phước

Gần đây, dư luận đang xôn xao xung quanh câu chuyện Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Phước ra thông báo số 285/TB-UBND về Kết luận của Phó Chủ tịch UBND Nguyễn Huy Phong tại cuộc họp nghe Sở Y tế báo cáo kết quả thực hiện công văn số 49/UNBD-VX ngày 21/8/2014 của UBND tỉnh. Đây sẽ là một thông báo rất bình thường nếu như trong thông báo trên không có đoạn: 2. Thống nhất họp báo để tổ chức công khai nội dung trên. Về thành phần, thời gian, thời lượng và địa điểm tổ chức họp báo, cụ thể: Về thành phần: "Phóng viên các báo chính thống Sài Gòn giải phóng, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, báo Công An, báo Bình Phước, Thông Tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân…".
Sau khi thông báo trên được đăng tải và lan truyền trên mạng Internet ngay lập tức đã gây ra không ít các thông tin, phản ứng trái chiều. Nhiều người đặt câu hỏi, không biết trong quan niệm của đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh Bình Phước tồn tại cả khái niệm về báo chính thống và báo không chính thống? Rồi là, thế nào là báo chính thống, thế nào là báo không chính thống? Những tờ báo nào là chính thống, tờ báo nào không chính thống?... Thực sự không biết vị Phó Chủ tịch có thể giải thích được không.
Điều 1, Luật Báo chí Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 1999), quy định: “Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân”. Điều 3 (Các loại hình báo chí), quy định: Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình(chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài". Điều 6 (Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí), nêu rõ, báo chí có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1.Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; 2.Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; 3.Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; 4.Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác; 5.Góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; 6.Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
Như vậy, trong Luật Báo chí Việt Nam không có khái niệm, báo chính thống và báo không chính thống. Vì vậy, không biết, đồng chí ông Nguyễn Huy Phong dựa vào đâu để chỉ mời một số báo chính thống? Phải chăng ông có sự phân biệt, đối xử giữa báo này với báo khác, hay những báo được ông mời có cùng quan điểm với cách xử lý của ông trong vụ bà Kiều Oanh bị trù dập?
Báo chí ở Việt Nam đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, các cơ quan báo chí đều là đại diện, cơ quan ngôn luận cho các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội, được cấp phép hoạt động báo chí và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Vì vậy không thể tồn tại báo chính thống và báo không chính thống.

                                                                           Nam Phong
Read more…

Bài 2: Nghệ thuật ngoại giao quốc phòng của tổ tiên ta thời Nhà Lý


Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh trận Ung Châu

Nhà Lý bắt đầu khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009, sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê, trải qua 9 triều vua và chấm dứt khi vua  Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 - tổng cộng là 216 năm. Trong thời đại của vương triều này, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm, khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ của mình. Ở thời ký nhà Lý có không ít những sự kiện đáng nhớ của lịch sử Việt Nam, như: việc dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La-Thăng Long; quốc hiệu Đại Việt ra đời; Văn Miếu và Quốc Tử Giám biểu tượng của văn hiến Việt Nam, được xây dựng… trong đó, không thể không nhắc tới những di sản được xem là nghệ thuật quân sự trong quan hệ bang giao của nhà Lý với các quốc gia láng giềng.
Thời nhà Lý, việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và độc lập, tự chủ của dân tộc được quan tâm thường xuyên. Trước mưu toan mở rộng lãnh thổ của nhà Tống, triều đình nhà Lý luôn cảnh giác với nguy cơ xâm lược từ phương bắc. Nhà Lý kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo bằng việc chủ động cử sứ giả sang Tống cầu phong vương, xin kinh Đại tạng, chấp nhận cống nạp và là phiên thần. Ngoài bang giao chính thức thông qua các sứ bộ, còn có các giao dịch khác, nhất là hoạt động buôn bán, trao đổi ở khu vực biên giới.
Trong quan hệ với Chiêm Thành, năm 1011, sau khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi vua thì Chiêm Thành chịu cống, nhưng chỉ được ít năm. Hè năm1043, Chiêm Thành lại cho quân tới quấy phá ở ven biển. Năm 1044, vua Thái Tông thân chinh vào Chiêm quốc, bắt chúa Sạ Đẩu. Vua Thái Tông hạ lệnh cấm không được giết người Chiêm Thành, ai làm trái sẽ trị tội. Từ đấy Chiêm Thành chịu thần phục nhà Lý.
Với nhà Tống, nhà Lý chủ trương ngoại giao hoà hiếu để tránh việc nhà Tống xâm chiếm Đại Việt, giữ yên bờ cõi. Điển hình là khi đấu tranh ngoại giao để đòi lại đất Quảng Nguyên, Tô Mậu, năm 1078, Lý Nhân Tông đã sai Đào Tống Nguyên đem biếu nhà Tống 5 con voi thuần. Đáp lại thịnh tình này, “năm 1079 nhà Tống đem Thuận Châu trả cho nhà Lý” (nhà Tống đổi tên Quảng Nguyên thành Thuận Châu). Theo đó, năm 1081, Lý Nhân Tông trả cho nhà Tống số dân và lính bị bắt. Năm 1084, Lý Nhân Tông “sai lang bộ binh Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng người Tống bàn việc cương giới. Định biên giới, nhà Tống trả lại cho ta 6 huyện 3 động”. Với sự kiện này, người Tống cho rằng, vì tham voi Giao Chỉ  mà nhà Tống bỏ mất vàng Quảng Nguyên.
Nhờ việc kết hợp giữa phát huy sức mạnh nội tại với chiến lược ngoại giao khôn khéo, mối quan hệ giữa nhà Lý và nhà Tống bớt căng thẳng hơn và nhà Tống phải từ bỏ ý định xâm chiếm Đại Việt. Với các quốc gia láng giềng khác, nhà Lý đã thể hiện được sức mạnh của mình, buộc họ phải thuần phục Đại Việt, không còn quấy nhiễu vùng biên, giúp Đại Việt bình yên vững bền.

                                                                            Nam Phong
Read more…

Trung Quốc lại dùng thủ đoạn “đẩy tàu” ra Biển

Trung Quốc lại dùng thủ đoạn “đẩy tàu” ra Biển

                                                                         Sóng Việt
Câu chuyện về những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm “nóng” dư luận thế giới trong thời gian dài. Sau khi vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng thế giới, tưởng rằng phía Trung Quốc đã có những tính toán thay đổi mang tính “chiến thuật” ở Biển Đông như: hạn chế việc tăng cường số lượng lớn các tàu ra biển, rút giàn khoan về nước...nhưng dường như hành động “dè chừng” của Trung Quốc đã lại một lần nữa bị “tư tưởng” bá quyền thôi thúc. Trung Quốc lại tiếp tục có nhiều hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt nam và các quốc gia trong khu vực. Cùng với những hành động thúc đẩy xây dựng các căn cứ quân sự trái phép tại Biển Đông cũng như “mở các tuyến du lịch” trái phép tại khu vực này, mới đây ngày 27/9/2014, Trung Quốc lại ngang ngược lên kế hoạch triển khai một tàu chở cá sống 200.000 tấn, phục vụ như một 'công xưởng' chế biến cá di động, đến bãi Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Thông tin từ tờ China Science Daily (trụ sở ở Bắc Kinh) cho biết, Bắc Kinh sẽ triển khai tàu chở cá sống đến vùng biển quanh bãi Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Điều đáng lo ngại là, mặc dù đã quá rõ về hành động vi phạm của mình và vấp phải sự phản đối của các quốc gia trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế nhưng Trung Quốc vẫn cố tình ảo tưởng về viễn cảnh Biển Đông là sở hữu của một mình họ. Mặc dù trên nghị trường, lãnh đạo Trung Quốc luận khẳng định sẽ giải quyết vấn đề Biển Đông trên cơ sở hòa bình nhưng trên thực tế Trung Quốc luôn làm ngược lại. Thậm chí, các hành động mà Trung Quốc tiến hành càng làm gia tăng căng thẳng tại khu vực này.
Liên quan đến việc triển khai tàu cá 200.000 tấn tại khu vực Trường Sa của Việt Nam, Ông Lei Jilin, nhà nghiên cứu thuộc Học viện Lâm nghiệp Trung Quốc, cho biết vẫn ảo tưởng cho rằng Tàu chở cá sống này có thể trở thành một "công xưởng" chế biến cá di động và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau cho quân đội và tàu dân sự Trung Quốc hoạt động trên biển Đông. Nội dung mà ông Lei Jilin đề cập trên là sự tiếp nối cho những hành động phi lý mà Trung Quốc đang tiến hành. Bởi vì không thể “tự tiện mang cần câu” vào ao nhà hàng xóm để câu cá và mang về nhà mình. Dường như Trung Quốc không hề muốn học thuộc bài học về hòa bình và hữu nghị. Chính họ đang tự mình tạo ra sự căng thẳng không cần thiết tại khu vực Biển Đông. Và lẽ đương nhiên, chính Trung Quốc sẽ phải hứng chịu những bài học đắt giá cho việc “nói một đằng và làm một nẻo” của mình.


Read more…

Đất liền, hải đảo đâu còn xa

Điện đã về đảo Lý Sơn

Sáng nay 28/9, tại đảo Lý Sơn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn công tác Chính phủ, tỉnh Quảng Ngãi dự lễ khánh thành dự án cấp điện từ hệ thống điện Quốc gia bằng cáp ngầm, đưa vào phục vụ người dân Lý Sơn ổn định, lâu dài. Đúng 9h50 phút, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn nút khánh thành dự án cấp điện cho đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đưa huyện đảo Lý Sơn chính thức có điện lưới quốc gia qua tuyến cáp ngầm trên biển. Đây là một sự kiện đặc biệt trọng đại đối với mỗi người dân huyện đảo Lý Sơn. Chưa bao giờ người dân ở vùng đất được mệnh danh là đảo Tỏi - huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) lại vui mừng như lúc này, khi ánh sáng điện lưới quốc gia đã được đưa về đến đây. Hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc ở miền trung đang từng ngày thay da đổi thịt trong niềm vui đến ngỡ ngàng của người dân đất đảo, chẳng ai có thể ngờ được ánh sáng điện lưới quốc gia lại có thể về đến đây nhanh đến vậy từ khi bắt đầu kéo cáp ngầm từ đất liền ra đảo. Thế là, 15 hải lý từ mút cảng Sa Kỳ ra đến cầu tàu An Vĩnh không còn xa vời như hàng trăm năm nay nữa. Có điện, Lý Sơn đang thức dậy. Dòng điện “chảy” khắp đất Việt nay đã bừng sáng nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc, giấc mơ giữ trọn biển đảo quê hương từ đất liền nay gần thêm hơn bao giờ hết...
Huyện đảo Lý Sơn được tách ra từ huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Huyện đảo Lý Sơn gồm 3 đảo: đảo Lớn (Lý Sơn, cù lao Ré), đảo Bé (cù lao Bờ Bãi) ở phía Bắc đảo Lớn, và hòn Mù Cu ở phía Đông của đảo Lớn. Huyện được chia làm 3 xã: An Vĩnh (huyện lỵ - Đảo lớn), An Hải (Đảo lớn) và An Bình (đảo Bé). Là huyện đảo tiền tiêu, có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, vì vậy, việc huyện đảo Lý Sơn hoà lưới điện quốc gia là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vừa góp phần cải thiện đời sống người dân vừa bảo đảm an ninh quốc phòng.
Trước đây, hơn 5.000 hộ dân với 22.000 nhân khẩu ở Lý Sơn phải chịu cảnh thiếu điện trầm trọng. Mỗi ngày người dân chỉ được sử dụng nguồn điện luân phiên 6 tiếng (người dân xã An Vĩnh có điện thắp sáng thì xã An Hải chịu cảnh mất điện) bằng trạm phát điện chạy dầu diesel với khoảng 10.000 Kwh mỗi ngày. Nhưng giờ đây, huyện đảo Lý Sơn đã chính thức có điện quốc gia với sản lượng điện trung bình tăng gấp đôi so với trước đạt 20.000 Kwh đảm bảo nguồn điện xuyên suốt 24/24.
Giờ đây, khi điện lưới đã về tới đảo, Lý Sơn sẽ có điều kiện để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống cho những người dân trên đảo. Bên cạnh đó, điện về tới đảo sẽ tiếp tục đưa huyện đảo Lý Sơn là cầu nối giữa đất liền yêu thương và biển đảo thiêng liêng của Việt Nam. Đất liền và hải đảo tự bao giờ đã không còn xa.

                                                           Nam Phong
Read more…

Lộ rõ toan tính chính trị mới của Trung Quốc

Ông Tập Cận Bình (phải) trong cuộc gặp Chủ tịch Tân Đảng của Đài Loan Yok Mu-ming
                                                                         Người Thủ Thư
Trong nhiều năm gần đây, bằng việc tiến hành nhiều hành động thể hiện “tư tưởng bá quyền”, Trung Quốc đã khiến thế giới có thêm một “góc nhìn mới” về một quốc gia đang “trỗi dậy mạnh mẽ” ở Châu Á. Hơn thế nữa, trong thời gian gần đây, với liên tiếp những hành động vi phạm luật pháp quốc tế mà trung Quốc đã thực hiện tại khu vực biển Đông đã thể hiện rõ ràng hơn “tư tưởng bá quyền” của Trung Quốc. Dường như trung Quốc đang cố tình chứng minh cho thế giới thấy rằng lãnh thổ Trung Quốc không chỉ “gói gọn” với hình dáng “chú gà trống” như hiện nay. Rõ ràng, Trung Quốc đang bất chấp luật pháp để hướng tới một trong những mục tiêu là “lãnh thổ”. Tuy nhiên, cũng có thể phía Trung Quốc đang cố tình quên rằng: không chỉ vấn đề lãnh thổ mà bất kỳ vấn đề quốc tế nào cũng cần phải giải quyết trên cơ sở luật pháp và tôn trọng hòa bình.
Sau sự kiện Hồng Kông, mới đây trong một cuộc gặp với lãnh đạo Đài Loan, Chủ tịch Trung Quốc đã lại  “khéo léo” đề cập đến vấn đề liên quan đến lãnh thổ. Ông Tập đã đề xuất công thức “một quốc gia, hai chế độ” với Đài Loan và cho rằng tái thống nhất Đại lục và Đài Loan là nhằm chấm dứt phản kháng chính trị chứ không chỉ xây dựng lại lãnh thổ và chủ quyền. Trong cuộc gặp với phái đoàn do chủ tịch Tân Đảng, ủng hộ tái thống nhất, Yok Mu-ming, ông Tập đã nhấn mạnh: “Tái thống nhất một cách hòa bình và một quốc gia, hai chế độ là nguyên tắc chỉ dẫn của chúng ta trong giải quyết vấn đề Đài Loan” và là “cách tốt nhất để hiện thực hóa tái thống nhất dân tộc”.
Dù rằng đây được xem là vấn đề mà  “lần đầu tiên” ông Tập đề cập kể từ khi lên nắm quyền, nhưng rõ ràng nó đã cho thấy rõ toan tính về chính trị của nhà lãnh đạo Trung Quốc. Những cố gắng trên nghị trường cùng với những hành động trên thực tế (kể cả những hành động vi phạm luật pháp quốc tế...) đều xoay quanh việc mở rộng phạm vi về chủ quyền của Trung Quốc. Đó là một tư tưởng đã ăn sâu từ ngàn đời nay của nước này.
Tuy nhiên, có lẽ vấn đề tuy mới bắt đầu nhưng không chỉ đơn thuần dừng lại ở vấn đề “đề cập” tới cái gọi là công thức “một quốc gia, hai chế độ”. Bởi vì, cùng với việc khởi xướng vấn đề này thì ông Tập cũng không quên nhấn mạnh: Ông Tập cũng nhấn mạnh với những vấn đề lớn liên quan đến tái thống nhất và phát triển lâu dài của người Trung Quốc, “quan điểm của chúng tôi là vững chắc và sẽ không có thỏa hiệp hay dao động”. Sự thật hai bờ eo biển thuộc về cùng một Trung Quốc “không bao giờ thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi” – ông tuyên bố. Ông Tập cũng tuyên bố “những kẻ chủ trương ly khai sẽ không được tha thứ” và lịch sử đã và sẽ chứng minh độc lập của Đài Loan sẽ không thành công.
          Liên quan đến sự kiện này, nhiều diễn đàn mạng cho rằng ông Tập đang dùng cách “chìa cành ô liu một quốc gia, hai chế độ” với Đài Loan. Nếu đúng là như vậy thì cũng phải xem xét cụ thể cái “tâm ý” của “người cầm cành ô liu”. Nhưng quan trọng hơn là phải nhìn nhận và tôn trọng ý kiến của nhân dân. Bởi vì, liên quan đến sự kiện này phần lớn người dân Đài Loan không ủng hộ ý tưởng tái thống nhất với Bắc Kinh hay các “công thức” như “một quốc gia, hai chế độ”. Vì vậy, toan tính chính trị mới và có phần lợi nhiều cho Trung Quốc  có thể lại vấp phải nhiều trở ngại mới.



Read more…

Tính chất cực đoan và man rợ của nhà nước Hồi giáo IS

Sự tàn ác mà man rợ của tổ chức nhà nước Hồi giáo IS
                                                               Tử Trầm Sơn
Dư luận thế giới trong nhiều tháng tháng dường như  đã nóng hơn bao giờ hết xung quanh chủ đề về tổ chức nhà nước Hồi giáo IS. Hồi giáo là một tôn giáo lớn và không hề xa lạ đối với bất kỳ ai và bất kỳ quốc gia nào. Xét về bản chất, các tôn giáo đều hướng tới cái thiện và hướng tới hòa bình. Nhiều tín đồ Hồi giáo cũng cho rằng ngay trong từ “islam” cũng đã bao hàm ý nghĩa của hòa bình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của con người, với những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị và quyền lực...cùng những quan điểm về xã hội, các sống...đã dẫn đến những mâu thuẫn có yếu tố tôn giáo. Thậm chí, trên thế giới đã từng xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu. Từ những xung đột này, nhiều người đã nảy sinh những suy nghĩ về tính cực đoan của các tôn giáo, trong đó có Hồi giáo. Tuy nhiên, đối với tổ chức nhà nước Hồi giáo IS lại có nhiều điểm khác lạ. Dường như đây còn là sản phẩm của một thế lực với tư tưởng đề cao cực đoan. Chỉ trong một thời gian ngắn, tổ chức nhà nước Hồi giáo IS đã tiến hành nhiều cuộc tấn công quy mô lớn gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhiều người dân vô tội. Trên nhiều diễn đàn, tổ chức này còn lớn tiếng thách thức nhiều quốc gia trong đó có Mỹ và các nước đồng minh. Có thể dẫn một vài minh chứng thể hiện tính cực đoan và man rợ của tổ chức nhà nước Hồi giáo này, đó là:
          1. Tiến hành liên tiếp những cuộc tấn công và thảm sát những người vô tội. Như để khẳng định sức mạnh và khuếch trương thanh thế, tổ chức nhà nước Hồi giáo đã liên tiếp tổ chức và tiến hành các cuộc chiến đẫm máu, bắt cóc nhiều con tin. Trên các diễn đàn mạng, tổ chức này công khai hình ảnh tàn sát hàng trăm người (chủ yếu là những người mà chúng bắt được trong các cuộc tấn công). Thậm chí, để đe dọa sự can thiệp của các quốc gia về hành động tội ác của mình, tổ chức này còn tiến hành các hành động giết người man rợ theo kiểu trung cổ như; chặt đầu hai nhà báo Mỹ là Sotloff và James Foley . Không chỉ hành quyết con tin, trong các cuộc tấn công vào lực lượng chính phủ ở Iraq, IS đã không ngần ngại xử tử 770 binh sĩ Iraq theo cách man rợ nhất: Nằm xuống đất cho chúng xả từng tràng đạn. Ngày 3/9, báo cáo của Tổ chức theo dõi nhân quyền - HRW nói IS đã hành quyết tới 770 binh sĩ Iraq sau khi chiếm một căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại thành phố Tikrit hồi tháng 6.
          2. Tiến hành các hành động đàn áp người dân vô tội, đe dạo nghiêm trọng hòa bình và ổn định ở khu vực mà tổ chức này đánh chiếm. Dường như không hề có ý định giấu giếm tham vọng của mình, tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo công khai ý muốn chiếm cả thế giới Arab, sau đó mở rộng ảnh hưởng ra khắp thế giới bằng cách thành lập các trường học đạo Hồi và chiêu mộ hàng nghìn người phương Tây vào hàng ngũ. "Mục tiêu chính và chủ yếu của Nhà nước Hồi giáo - IS mà họ nói với các thành viên mới là thành lập một nhà nước đạo Hồi bao trọn thế giới Arab. Và sau đó, họ sẽ đến các nước khác". Đối với những người dân vô tội, tổ chức này đã thực hiện những vụ đóng đinh vào cơ thể người và xử tử công khai. Những phụ nữ không đeo mạng che mặt sẽ bị đánh đập với tần suất đáng báo động. Thậm chí những người chủ mở cửa hàng trong thời gian dành cho cầu nguyện cũng có thể bị hành hạ hoặc tống vào tù. "Triết học bị cấm. Họ hủy bỏ nó, coi đó là một sự báng bổ", anh kể. "Nhiều môn học cũng bị bỏ đi, như âm nhạc và thậm chí đôi khi là thể thao. Tất cả các môn đó bị loại ra khỏi chương trình học"...
          Hành động tội ác thể hiện sự man rợ của tổ chức này đang bị cả thế giới lên án. Mới đây Mỹ và các nước đồng minh đã tiến hành các cuộc không kích nhằm tiêu diệt tổ chức này. Tuy nhiên, vấn đề mà dư luận thế giới đang quan tâm hơn cả là khi nào và bao giờ những người dân vô tội mới thoát khỏi “bàn tay tội ác” của tổ chức này.


Read more…

Hội nghị thượng đỉnh liên minh tôn giáo đề cao tinh thần đoàn kết và hòa bình



                                                                   Người Thủ Thư
Từ lâu trong lịch sử loài người, tôn giáo đã trở thành một yếu tố tinh thần không thể thiếu của một bộ phận quần chúng nhân dân. Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo khác nhau, có tôn giáo độc thần, có tôn giáo đa thần. Xét về bản chất, các tôn giáo chân chính đều luôn hướng con người đến cái thiện. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, trên thế giới đã từng xảy ra các cuộc xung đột hay chiến tranh có yếu tố tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử phát triển khác nhau, nhưng lại có nhiều điểm tương đồng nhau về mặt giáo lý và cách thực hành nghi lễ...Cộng đồng những người theo các tôn giáo khác nhau hiện nay chiếm một số lượng rất lớn trong dân số thế giới. Thế giới ước tính, hiện có 500.000 tôn giáo đang tồn tại. Trong 7,2 tỉ dân trên trái đất, có 85% là những người theo đạo. Cũng chính vì vậy, đã từ lâu nhiều quốc gia trên thế giới đều luôn mong muốn và hướng tới sự hòa bình, đoàn kết cùng tồn tại và phát triển giữa các tôn giáo.
Mới đây, ngày Ngày 20 tháng 9 năm 2014, tại Hàn Quốc, lần đầu tiên Hội nghị thượng đỉnh liên minh tôn giáo vì hòa bình thế giới đã được tổ chức tại Hàn Quốc, thu hút khoảng 1.500 lãnh đạo thuộc các tôn giáo trên toàn thế giới. Sự kiện này đánh dấu bước quan trọng trong quá trình hoạt động của các tôn giáo cũng như lịch sử của thế giới vì một thế giới hòa bình. Tuy nhiên, lịch sử và hiện tại cũng đánh dấu những tiêu cực từ tôn giáo; đó là việc lợi dụng yếu tố tôn giáo để thực hiện những âm mưu đen tối; sự cực đoan của nhiều hệ phái tôn giáo… Như chúng ta đang thấy rất rõ thời gian gần đây, cả thế giới đang đặc biệt quan tâm và bức xúc trước những hành động cực đoan, dã man của những phần tử cực đoan tự xưng là “Nhà nước Hồi giáo”. Những hành động đó chỉ là ví dụ rất điển hình, minh chứng cho những tội ác được con người ta gây ra dưới cái danh lợi dụng tôn giáo. Những yếu tố tiêu cực đó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sự hoạt động và danh tiếng của các tôn giáo; mà cùng với những yếu tố ảnh hưởng tới hòa bình thế giới đã đặt đặt vai trò của các tôn giáo đối với thế giới cần được nâng lên một bước. Chính vì vậy, tiền đề cho vai trò đó được thể hiện qua hội nghị giữa các tôn giáo được tổ chức tại Hàn Quốc ngày hôm nay.
Tại hội nghị này, Bà Nam Hee Kim, đồng chủ tịch của tổ chức này cũng phát biểu: “Thế giới này là của tất cả chúng ta, hòa bình phải được thiết lập tại nhân gian. Chiến tranh là hủy diệt,hòa bình là bảo vệ trẻ em và thế hệ trẻ! Tôi chỉ là chứng nhân của tổ chức này! Hội Nghị này là một biểu hiện vì hòa bình. Tất cả mọi chuẩn bị và mọi người nơi đây cũng đều nói lên hòa bình. Ước mơ về hòa bình là một nhu cầu và một ước ao đối với tất cả mọi người, mọi gia đình.
Có nhiều người làm cách này hay cách nọ để giải quyết vấn đề chiến tranh, chấm dứt hòa bình, nhưng không có cách nào hơn. Cách tốt nhất là mọi người phải thực hiện ý nghĩa hòa bình ngay nơi chính bản thân họ và gia đình, ngay đây và bây giờ. Chiến tranh chẳng giải quyết gì cho hòa bình thế giới.
Tất cả Tôn giáo trên thế giới và văn hóa có thể cầu nguyện và thực hiện được. Những thế hệ trẻ cũng có thể làm được vì họ là thế hệ kế thừa của mỗi quốc gia. Tại sao chúng ta lại bắt thế hệ trẻ chịu nhiều hậu quả chiến tranh? Tất cả mọi người ngày hôm nay đều tự hứa sẽ thiết lập hòa bình tại đây!”

Tuy nhiên, cần nhìn nhận một thực tế rằng các tôn giáo không phải là các nhà nước độc lập, cho nên những gì được nêu ra trong Hội nghị không có sự ràng buộc cao; chính vì vậy người ta kỳ vọng nhiều vào vai trò của Liên Hợp quốc trong việc gắn kết các tôn giáo và phát huy vai trò to lớn của các tôn giáo trong việc duy trì hòa bình thế giới. Cần có nhiều thêm những Hội nghị như vậy; khuyến khích thêm nhiều các tôn giáo khác trên thế giới tham gia để tầm ảnh hưởng của Hội nghị ngày càng được mở rộng.
Read more…

Bài 1: Nghệ thuật ngoại giao quốc phòng của tổ tiên ta thời Lê

Thập đạo tướng quân Lê Hoàn

Năm 968, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Tiên Hoàng lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, mở đầu nền độc lập tự chủ của nước ta. Tuy nhiên, do “không biết phòng xa”, nên Đinh Tiên Hoàng chỉ làm vua được 12 năm thì bị Đỗ Thích sát hại. Ấu chúa Đinh Toàn (Tuệ) nối ngôi khi mới 6 tuổi. Vương triều nhà Đinh chưa có thời gian củng cố thì bên trong nội loạn diễn ra, bên ngoài thì Trung Quốc đang rắp tâm thôn tính. Nền độc lập non trẻ của nước nhà lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Thế nhưng ở trong nước, một số công thần trung thành với nhà Đinh như: Nguyễn Bặc (chức vụ như tể tướng) cùng các đại thần khai quốc nắm trong tay nhiều binh lực như Ngoại giáp Đinh Điền, Vệ úy Phạm Hạp âm mưu tạo phản.
Lúc này, nhà Tống căn bản đã dẹp xong các thế lực cát cứ, tái thống nhất Trung Quốc. Nhân lúc nhà Đinh đang gặp khó khăn, Hầu Nhân Bảo đang trấn thủ Ung Châu dâng lên vua Tống “Đắc Giao Châu sách” (kế sách lấy Giao Châu), kiến nghị đây là thời cơ tốt nhất để đánh chiếm Đại Cồ Việt và xin được về triều tâu bày trực tiếp. Vua Tống định triệu Hầu Nhân Bảo về, nhưng Tể tướng Lư Đa Tốn thâm độc hơn, cho rằng nước ta đang có nội loạn, nên phải bất ngờ đem quân sang đánh úp “như sét đánh không kịp bịt tai” và đề nghị không nên triệu Hầu Nhân Bảo về, vì như thế tin tức sẽ bị lộ. Tống Thái Tông y lời, cử  Hầu Nhân Bảo cùng các tướng Trần Khâm Tộ, Tôn Toàn Hưng, Triệu Phụng Huân, Quách Quân Biện, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn…  đem đại quân hội từ bốn hướng chia hai đường thủy bộ “hẹn cùng sang xâm lược”.
Ở phía Nam, phò mã Ngô Nhật Khánh (con rể Đinh Tiên Hoàng) làm phản, dẫn quân Chiêm Thành với hơn 1000 thuyền chiến do đích thân vua Chiêm cầm đầu theo đường biển tiến thẳng vào kinh đô Hoa Lư, rắp tâm xâm chiếm nước ta, may mà đội quân này chưa tới nơi đã bị bão dìm chết, chỉ còn vua Chiêm sống sót.
Trong tình thế hiểm nghèo như thế, dưới sự hậu thuẫn của thái hậu Dương Vân Nga cũng như sự ủng hộ lớn từ các tướng quân khác, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn nhiếp chính. Lê Hoàn một mặt nhanh chóng dẹp yên nội loạn, một mặt ráo riết chuẩn bị đối phó với quân xâm lược. Vừa lên ngôi, Lê Hoàn đã phải ra trận. “Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông Chi Lăng. Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo, đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Chiến thắng lịch sử đó, cùng với những nỗ lực củng cố quốc lực của Lê Hoàn, đã giúp cho đất nước giữ được nền hòa bình gần 100 năm.
Điều làm nên tầm vóc của Lê Hoàn cũng như việc giữ vững nền hoà bình cho đất nước chính là tài thao lược, đặc biệt là tài ngoại giao quốc phòng của Lê Hoàn. Một chính sách ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo nhưng cũng hết sức kiên quyết, cứng rắn. Sau khi thắng quân Tống, mặc dù biết rõ Chiêm Thành vẫn nuôi ảo mộng xâm chiếm nước ta nhưng Lê Hoàn vẫn tỏ ra hòa hiếu bằng cách cử sứ giả sang Chiêm. Do vua Chiêm bắt giữ sử giả với ý đồ gây chiến, ông tức giận sai đóng chiến thuyền, sửa sang binh khí, rồi thân chinh đi đánh Chiêm Thành, giết chết vua Chiêm, sang phẳng thành trì, đúng 1 năm mới kéo quân về nước. Từ đó Chiêm Thành mới không quấy nhiễu nữa.
Bên cạnh đó, để ngăn ngừa các hoạt động do thám nhằm xâm lược nước ta của nhà Tống, Lê Hoàn khéo léo đề nghị: “Sau này nếu có quốc thư thì nên giao nhận ngay ở đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa”. Sau đó, “Cảo về tâu, vua Tống bằng lòng”. Năm 997, nhân khi vua Tống băng hà và việc nhà Tống phong cho Lê Hoàn làm Nam Bình Vương, vua Lê Hoàn sai sứ sang Tống đáp lễ, trước hành động đó của Lê Hoàn, vua Tống đã “ban chiếu thư khen ngợi”. Chính nhờ phong cách ứng xử biết người, biết mình của Lê Hoàn mà nhà Tống đã thay đổi chính sách đối ngoại theo hướng có lợi cho nước ta. Đó là, nếu trước kia sứ Tống thường mượn cớ để yêu cầu nước ta cống nạp thì khi Tống Chân Tông lên ngôi, biết hành động đáp lễ của Lê Đại Hành như vậy, nên mỗi khi có quốc thư, hay ban chiếu đối với Đại Cồ Việt, nhà Tống “chỉ sai quan giữ biên giới đến nhận mệnh, không sai người sang sứ nữa”.
Đây là các hoạt động đấu tranh ngoại giao quốc phòng thời Tiền Lê thông qua quy định, luật lệ và được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú với thái độ mềm mỏng mà không yếu ớt đã làm đối phương phải tôn trọng, hợp tác với ta, nhờ đó ngăn chặn được các hành động phá hoại giữ yên bờ cõi.

                                                                            Nam Phong
Read more…

Thấm nhuần triết lý “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong bảo vệ chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc



Ngày 31/5/1946, trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới được thành lập và đang phải đối mặt với tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trước khi sang Pháp Bác Hồ dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng “dĩ bất biến ứng vạn biến” để giữ vững nền độc lập của dân tộc. Thấm nhuần tư tưởng của Người, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã cùng với Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đã giữ vững được nền độc lập của dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng trong bối cảnh phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là lấy cái không thay đổi để đối phó với vạn cái thay đổi. Nó là bí quyết đảm bảo thắng lợi của cách mạng, trong xử lý tình huống cách mạng. Hiểu một cách ngắn gọn đó là xử lý công việc phải rất linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, không máy móc, giáo điều (vạn biến) nhưng lại phải tuân theo nguyên tắc điều không được phép thay đổi (bất biến). Cái “bất biến” ấy chính là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Phương châm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm ý là phải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc, tính kiên định, tính vững chắc với tính linh hoạt, tính uyển chuyển của sách lược trong từng thời kỳ cụ thể; giữa đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng. Trung thành với nguyên tắc cũng chính là trung thành với mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, của Đảng đã đề ra. Đó là “cái bất biến”. Để thực hiện được cái bất biến ấy, trong những tình thế đầy hiểm nghèo, đầy gian nan thử thách, người cách mạng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm, sáng suốt và mưu lược để áp dụng muôn vàn “cái vạn biến” trong đường đi nước bước mà hoàn cảnh đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết. Bởi vậy, sách lược trong từng thời kỳ cụ thể cũng phải mềm dẻo, uyển chuyển (cái vạn biến), nhưng dù có mềm dẻo, uyển chuyển như thế nào đi chăng nữa cũng không được quên mục đích cuối cùng (cái bất biến).
Thấm nhuần tư tưởng này của Người, trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành và giữ vững độc lập tự do của Tổ quốc. Cách mạng tháng 8/1945 chính là sự vận dụng sáng tạo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong bối canh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới ra đời, nhà nước công nông do Hồ chủ tịch đứng đầu đã phải đương đầu với bao thế lực thù trong giặc ngoài đang lăm le bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ. Đó là 20 vạn quân Tưởng tràn vao miền Bắc để giải giáp quân Nhật, là quân Anh vào tước vũ khí quân Nhật ở miền Nam và theo sau là quân Pháp muốn trở lại xâm chiếm nước ta một lần nữa. Đó là bọn Việt quốc, Việt cách bám gót quân Tưởng về nước chống phá cách mạng là bọn tay sai của thực dân, bọn địa chủ phong kiến phản cách mạng … Trước tình cảnh đất nước như ngàn cân treo sợi tóc, vận dụng phương châm “”Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh đã phân hoá và lần lượt gạt bỏ từng kẻ thù, phá thế lưỡng đầu thọ địch, giữ vững được chính quyền cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một lần nữa phương châm trên được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nâng lên thành nghệ thuật bằng việc thay đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” chuyển sang “đánh chắc tiến chắc”. Khi đại tướng báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, sau một đêm thức trắng, Bác Hồ đã nói với đại tướng rằng: “Chú là đại tướng ra ngoài mặt trận, chú toàn quyền hành động”. Đồng thời Bác cũng quán triệt đã đánh là phải thắng. Như vậy, Người giao cho đại tướng toàn quyền quyết định là đã cho phép ứng vạn biến nhưng Người yêu cầu phải thắng tức là dĩ bất biến. Và thực tế, Đại tướng đã thực hiện được điều đó.
Trong những năm đấu tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vận dụng sáng tạo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nước ta với liên Xô và Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ của hai nước này cho cách mạng Việt Nam khi mà Liên Xô và Trung Quốc có những bất đồng. Đó là những minh chứng lịch sử thể hiện rõ nhất sự vận dụng sáng tạo và linh hoạt phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc ta.
Hiện nay, trong bối cảnh Trung Quốc đang có những hành động ngang ngược, xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, hơn lúc nào hết việc thấm nhuần phương châm trên là điều hết sức cần thiết để giữ vững độc lập, chủ quyền của đất nước. “Cái bất biến” ở đây là độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. “Cái vạn biến” ở đây là trong ứng xử, hành động của ta phải tỉnh táo, sáng suốt, mưu lược, kiên trì và dũng cảm. Điều đó sẽ giúp chúng ta bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và phục vụ thắng lợi sự nghiệp phát triển đất nước.

                                                                            Nam Phong
Read more…

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Nơi tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại hội Đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ 8

Ngày 18-11-1930, Hội Phản đế đồng minh - hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam được thành lập. Hội đã tuyên truyền, vận động dân chúng dấy lên cao trào phản đế mạnh mẽ trong cả nước với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh ra đời. Tháng 5-1949, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt được thành lập, đã mở rộng hơn nữa khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Tháng 3-1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt. Ngày 10-9-1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Sau khi đất nước thống nhất, các lãnh đạo của 3 tổ chức chính trị ngoại vi hợp pháp đang tồn tại ở Việt Nam gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã họp từ 31/1 đến 4/2/1977 tại thành phố Hồ Chí Minh, thống nhất ba tổ chức này thành một tổ chức chính trị duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đó là những mốc son đánh dấu sự ra đời và trưởng thành, lớn mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  Từ khi ra đời cho đến nay, với hình thức ban đầu là Hội Phản đế đồng minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nơi tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là nơi kết tinh sức mạnh, trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Mặt trận đã thống nhất ý chí và hành động, tập hợp và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến hoàn toàn thắng lợi, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là nơi cả dân tộc đoàn kết, đồng tâm hiệp lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn là nơi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân nhân, thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội thúc đẩy xã hội phát triển. Trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình chính trị thế giới và khu vực tiếp tục đang có những diễn biến phức tạp hơn lúc nào hết, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải được củng cố và không ngừng phát huy, đó chính là cơ sở và nền tảng quan trọng nhất để dân tộc ta bước lên trên con đường hội nhập. Với quyết tâm: Phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc, tự lực, tự cường, trí tuệ, sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức, giữ vững hòa bình, chủ quyền quốc gia, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 8 diễn ra đang được nhân dân hết sức kỳ vọng. Hơn lúc nào hết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục phát huy sứ mệnh của mình, là nơi tập hợp, kết tinh và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, chú trọng thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội để đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hùng cường, bền vững.

                                                                           Nam Phong
Read more…

Đừng cường điệu hoá quan hệ với một nước nào!

Quan hệ Việt - Mỹ 

Trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam đang có những căng thẳng, bất đồng, đặc biệt là sau khi Trung Quốc ngang nhiện hạ đặt trái phép giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, bên cạnh đó Trung Quốc còn thường xuyên tiến hành các hoạt động gây hấn, uy hiếp tàu cá của Việt Nam trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, một số người cho rằng Việt Nam cần phải liên minh, hợp tác với Mỹ để chống lại Trung Quốc. Vấn đề theo Mỹ, theo Trung, thoát Trung được không ít người bàn luận.
Gần đây, khi Mỹ đang có ý định dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, thì vấn đề đó lại tiếp tục được nêu ra. Thậm chí một số người còn tự cường điệu hoá cho rằng, Việt Nam đang liên minh với Mỹ bởi cả hai cùng chung mục đích, Việt Nam liên minh với Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc. Thực sự đó chỉ là những đồn đoán, nhận định mang tính chủ quan, cường điệu hoá quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ của một số người. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị trên nguyên tắc “bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Về phương châm của đường lối đối ngoại, các văn kiện của Đại hội khẳng định: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Việt Nam không tham gia một liên minh quân sự nào, không liên minh với quốc gia này để chống quốc gia khác. Đó là đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam đó là điều hết sức bình thường trong quan hệ quốc tế. Việt Nam và Mỹ đã chính thức bình thường hoá quan hệ được 20 năm trước, bởi vậy, việc mối quan hệ giữa hai nước trở lại bình thường, thì  việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam là điều hết sức bình thường, không có gì phải cường điệu nó cả.

                                                                            Nam Phong
Read more…

Tập Cận Bình muốn nhắm vào ai khi kêu gọi quân đội sẵn sàng cho chiến tranh khu vực?

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

Ngày 23/9, ngay sau khi trở về từ chuyến thăm Ấn Độ, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã triệu tập 15 tướng lĩnh cấp cao tới Bắc Kinh, yêu cầu các tướng lĩnh quân đội phải “hiểu hơn về tình hình an ninh trong nước và quốc tế”. Sau đó thăng chức cho 3 tướng quân đội được cho là thân cận với ông và yêu cầu quân đội “nâng cao tính sẵn sàng chiến đấu và khả năng chiến thắng trong một cuộc chiến khu vực trong thời đại công nghệ thông tin”.
Ông Tập Cận Bình muốn nhắm vào ai?
Tuyên bố của ông Tập Cận Bình ngay lập tức đã khiến nước láng giềng Ấn Độ dậy sóng, đồng thời cũng gióng lên hồi chuông nghi ngại khắp Ấn Độ: Liệu nó có phải là nhằm vào Ấn Độ? Đặc biệt, trong bối cảnh, quan hệ giữa hai nước láng giềng Trung Quốc - Ấn Độ đang căng thẳng khi quân đội hai nước đang đối đầu ở khu vực biên giới tại Chumar, miền đông Ladakh. Điều đó càng khiến cho dư luận nghi ngại rằng ông Tập Cận Bình đang nhắm tới Ấn Độ.
Tuy nhiên, quan sát những gì đang diễn ra ở khu vực, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước láng giềng trong khu vực thì có lẽ, không hẳn ông Tập Cận Bình chỉ nhắm tới Ấn Độ. Hiện nay, Trung Quốc cũng đang có căng thẳng về lãnh thổ với Nhật Bản và hai nước Nhật-Trung còn có có những khúc mắc do lịch sử để lại. Việc Trung Quốc và Nhật Bản liên tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, những căng thẳng giữa hai nước ở biển Hoa Đông. Căng thẳng giữa Trung-Nhật đã khiến Nhật gần đây phải điều chỉnh lại chính sách quốc phòng, đặc biệt Nhật Bản đã đồng ý để quân đội tham chiến nhằm bảo vệ các nước đồng minh khi bị đe doạ. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có một loạt vấn đề với Hàn Quốc cũng như với Triều Tiên, quốc gia mà Bắc Kinh đã hỗ trợ rất nhiều.
Hơn nữa, những gì đang diễn ra ở Biển Đông, khi Trung Quốc đang gây căng thẳng trong quan hệ với các nước ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là với Việt Nam, Philippin. Mặc dù Trung Quốc đã rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam nhưng xem chừng họ vẫn tìm cách quay trở lại để thực hiện “giấc mộng” của mình. Điều đó cho thấy, lời kêu gọi của Chủ tịch Tập Cận Bình không chỉ muốn nhằm vào Ấn Độ mà muốn nhằm tới các nước trong khu vực đang có tranh chấp, mâu thuẫn với Trung Quốc.
Ông Tập Cận Bình đã tin tưởng tuyệt đối vào quân đội?
Lời kêu gọi của ông Tập diễn ra trong bối cảnh quân đội Trung Quốc đang trong cuộc cải tổ, thanh lọc mạnh mẽ dưới bàn tay của Tập Cận Bình. Một chiến dịch chống tham nhũng đang được Tập Cận Bình thực hiện triệt để trong quân đội nhằm khôi phục lại sức mạnh cho lực lượng này vốn đã bị suy yếu rất nhiều vì tham nhũng và lạm quyền. Tân Hoa xã, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, dẫn một tuyên bố chính thức cho biết: “Toàn bộ lực lượng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải theo chỉ thị của Chủ tịch Tập Cận Bình, cũng là chủ tịch Quân ủy trung ương (CMC) và cập nhật hoạt động của họ để đáp ứng được mục tiêu và sứ mệnh mới do CMC đưa ra”. Tuyên bố trên cho thấy có vẻ như ông Tập chưa hài lòng với quân đội và nhấn mạnh quân đội cần “nâng cao hiệu quả chỉ huy dưới tình hình mới”. Điều đó cho thấy, lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình không chỉ nhắm đến các quốc gia trong khu vực mà còn nhắm tới chính lực lượng quân đội Trung Quốc. Đó là cách để giúp ông cải tổ lại lực lượng này nhằm củng cố quyền lực của mình hơn nữa đối với quân đội.
Tóm lại, suy cho cùng lời tuyên bố của Chủ tịch Tập Cận Bình một lần nữa cho thấy, đây chẳng khác nào một sự giương oai, hù doạ, đòn “võ mồm” của Trung Quốc với các nước trong khu vực nhằm thuận đường cho việc thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa”, hiện thực hoá “đường lưỡi bò” phi pháp mà Trung Quốc đang ấp ủ mà thôi.

                                                                           Nam Phong
Read more…

Sao lại lợi dụng một bộ phim để xuyên tạc?

Cảnh trong phim "Sống cùng lịch sử"

Trong những ngày qua một đề tài đang được dư luận khá quan tâm và được các phương tiện truyền thông đề cập khá nhiều là việc bộ phim “Sống cùng lịch sử” của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, tiêu tốn khoảng 21 tỉ đồng nhưng không bán được vé tại các rạp chiếu. Truyền thông bắt đầu khai thác dưới các góc độ khác nhau như, vì sao bộ phim lại ế khách?; đạo diễn nói gì khi bộ phim không thu hút được người xem?... Đó là những câu chuyện hết sức đời thường, bởi vì khi một điều gì đó được quan tâm, được đầu tư nhưng không thành công thì khi đó ngay lập tức sẽ bị xoi mói. Tôi chỉ tiếc rằng, nếu như khâu quảng cáo, tiếp thị cho bộ phim cũng rầm rộ như khi nó được công chiếu mà không bán được vé thì có lẽ nó đã không phải nhận một kết cục như vậy. Tuy nhiên, thật sự tôi cảm thấy rất đáng buồn khi đã có một số kẻ lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc lịch sử.
Trên một số trang web, blog như “dân làm báo”, “bauxite Việt Nam”, “BBC tiếng Việt”, “RFA tiếng Việt”… liền cho đăng tải các thông tin, bài viết xuyên tạc, hướng lái dư luận đi theo hướng khác. Nào là, “không muốn Sống cùng lịch sử” (dân làm báo), “vì sao giới trẻ Việt Nam không đón nhận phim sống cùng lịch sử?” (RFA tiếng Việt), “Phim ca ngợi tướng Giáp huỷ chiếu vì “ế” (BBC tiếng Việt)…
Đã có nhiều bài viết, nhiều ý kiến phân tích, đánh giá, mổ xẻ nguyên nhân vì sao bộ phim “sống cùng lịch sử” không thu hút được khách, bị “ế” nhưng với tôi, một bộ phim không hay thì không mọi người không thích xem. Đơn giản chỉ có vậy, không hay ở đây được hiểu là không hay ở kịch bản, không hay ở cách diễn xuất, không hay ở cách quảng bá… Bộ phim “Sống cùng lịch sử” là một bộ phim được công chiếu nhân dịp kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, là một bộ phim về lịch sử nhưng những người làm phim đã không chuyển tải được những thông điệp lịch sử, gợi lại lịch sử một cách sống động nên đã không thu hút được khán giả. Một người đã từng xem hết bộ phim này nói, “Xem xong bộ phim, so sánh với những lời ca ngợi bộ phim tôi chợt cảm thấy tiếc nuối cho những người đã đặt niềm tin vào ê-kíp làm phim. Có lẽ đạo diễn Nguyễn Thanh Vân đã quá tham lam khi muốn chuyển tải quá nhiều nội dung vào cùng một bộ phim: vừa muốn đả kích quân Pháp tàn ác; vừa tái hiện lại giai đoạn lịch sử “năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”; vừa muốn ca ngợi các tấm gương anh dũng hi sinh của Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót…; vừa muốn thay đổi nhận thức của giới trẻ (nhất là nhân vật Tùng) về chiến thắng Điện Biên, hướng họ đến lý tưởng sống cao đẹp; lại muốn thể hiện tầm vóc lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chính sự tham lam, ôm đồm đó đã khiến bộ phim như những “lát cắt lịch sử” được chắp vá một cách vụng về, khiên cưỡng”.
Bên cạnh đó, theo tôi chính khâu quảng bá, tiếp thị kém cũng là một nguyên nhân làm cho bộ phim ế khách. Bộ phim “Sống cùng lịch sử”, có tổng đầu tư 21 tỉ đồng nhưng chỉ dành 50 triệu đồng cho các hoạt động quảng bá phim: treo banner, in poster, họp báo, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông... Một bộ phim dù là đặt hàng, được Nhà nước tài trợ nhưng không được quảng bá rộng rãi, ra rạp theo kiểu chiếu cho có, phim lỗ cũng "chẳng chết ai". Chính vì tư duy kiểu bao cấp như vậy mà rất nhiều bộ phim dù được Nhà nước rót hàng tỉ, thậm chí vài chục tỉ đồng như “Sống cùng lịch sử” đều không đến được với khán giả.
Đó là lý do giải thích tại sao “Sống cùng lịch sử” được đầu tư với số tiền không phải là nhỏ nhưng lại ế khách. Đơn giản chỉ có vậy. Thế nhưng dưới con mắt của một số người, nhất là những người lâu nay vốn được biết đến với tư cách là các nhà “zân chủ” thì nó lại chuyển thành một câu chuyện hoàn toàn khác. Đúng là, không quá khi nói rằng, xuyên tạc chính là nghề của các nhà “zân chủ” Việt Nam.

                                                                        Lâm Trấn
Read more…

Nhân quyền ở đâu?

Đống đổ nát sau vụ không kích của Mỹ và liên quân ở Syria

Lâu nay người Mỹ vẫn cho mình cái quyền phán xét, đánh giá về nhân quyền ở các quốc gia, họ thường ra các đạo luật, nghị quyết nói quốc gia này, quốc gia kia vi phạm nhân quyền, nhưng chẳng khi nào họ thừa nhận mình vi phạm nhân quyền. Câu chuyện về việc Mỹ và liên quân tiến hành không kích tổ chức “Nhà nước Hồi giáo” (IS) trên lãnh thổ Syria mà không cần được sự đồng ý của quốc gia này một lần nữa lại cho chúng ta thấy rõ điều đó.
Nửa đêm ngày 22/9 (giờ địa phương), Mỹ và các đồng minh trong liên minh chống Nhà nước Hồi giáo (IS) đã phát động cuộc tấn công và tiến hành không kích o các mục tiêu của lực lượng này ở Syria. Cuộc không kích đầu tiên kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ và theo Bộ Quốc phòng Mỹ thì đây là một trận oanh tạc mạnh mẽ gồm 3 đợt tấn công. Khởi đầu, hai chiến hạm Mỹ USS Arleigh Burke và USS Philippines Sea từ hải phận quốc tế ở Hồng Hải và phía Bắc vịnh Persic phóng đi 47 tên lửa hành trình Tomahawk. Tiếp theo là 200 phi vụ oanh kích của máy bay Không quân, Hải quân, Thủy quân Lục chiến, bao gồm cả máy bay chiến đấu và máy bay không người lái. Ðợt tấn công thứ ba bằng tên lửa hành trình cũng như bằng máy bay nhắm vào thành phố Aleppo, căn cứ của Khorasan, phân bộ al-Qaeda trước kia chưa từng được nói tới, nhưng giới tình báo đã biết từ lâu và gần đây có dấu hiệu nhóm này đang tổ chức một cuộc nổ bom khủng bố máy bay hàng không dân sự.
Chiến dịch không kích của Mỹ và liên quân đã phá hủy làm hư hỏng nhiều mục tiêu như các vị trí, khu huấn luyện, trung tâm chỉ huy và xe vũ trang của IS ở thành trì của chúng tại miền bắc Syria và khu vực gần biên giới với Iraq. Rami Abdulrahman, người đứng đầu Đài Quan sát Nhân quyền Syria có trụ sở tại London, nói có ít nhất 300 người trong đó có những thành viên của Nhà nước Hồi Giáo và al-Qaida thiệt mạng hay bị thương trong những cuộc không kích.
Nhưng điều được dư luận quan tâm đó là Mỹ và liên quân đã tiến hành tấn công “Nhà nước Hồi giáo” trên lãnh thổ Syria mà chưa được sự đồng ý của Syria. Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận là không xin phép hoặc hợp tác với Syria. Nhà Trắng lập luận là không cần phải được phép mới tiến hành cuộc oanh kích, vì sử dụng quyền đã được trao trong việc chống khủng bố al-Qaeda. Tuyên bố tại Nhà Trắng, ông Obama nói những mục tiêu không kích ngày hôm qua chủ yếu vào nhóm IS nhưng cũng nhằm vào cả al-Qaida, và đặc biệt là nhóm Khorasan. Đó chỉ là những lập luận của Mỹ. Ngay sau khi Mỹ và liên quân tiến hành không kích vào Syria, Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố: “Bất kỳ hành vi can thiệp quân sự nào cũng cần được thực hiện theo đúng luật pháp quốc tế. Việc không kích ở Syria đòi hỏi phải có sự đồng ý của chính phủ Syria hoặc sự phê chuẩn của Hội đồng Bảo an Liên Hợp QuốcNhững hành động nhằm thực hiện mục tiêu địa chính trị bất chấp chủ quyền của các quốc gia trong khu vực sẽ chỉ khiến căng thẳng leo thang và làm cả Trung Đông rơi vào bất ổn”.
Có thể nói, việc Mỹ và liên quân tiến hành tấn công tổ chức “Nhà nước Hồi giáo” ngay trên lãnh thổ Syria mà không được sự cho phép của chính quyền Syria là một hành động không phù hợp với luật pháp quốc tế. Thậm chí có thể nói là xâm phạm chủ quyền của quốc gia khác. Dẫu biết rằng “Nhà nước Hồi giáo” đang là mối đe dọa lớn đối với thế giới, tuy nhiên việc tiến hành tấn công quân sự vào lãnh thổ của một quốc gia khác phải được sự chấp thuận của quốc gia đó. Nhưng đó là việc mà người Mỹ vẫn thường làm. Họ luôn gây sức ép, buộc các quốc gia phải tôn trọng nhân quyền nhưng họ luôn cho mình cái quyền làm những việc mà mình thích.

                                                                                 Việt Nguyễn
Read more…

BÌNH LUẬN GẦN ĐÂY