KỊCH BẢN CŨ LẠI ĐƯỢC ÁP DỤNG CHO BLOGER “ĐIẾU CÀY”




Khi đề cập đến kịch bản người ta thường có ý nói đến những vấn đề đã được dàn dựng sẵn, được bố trí từ trước để rồi khi “nhập cuộc” thì chỉ việc làm theo những gĩ đã chuẩn bị sẵn mà thôi. Vì thế mà một kịch bản được coi là hay và thu hút được “khản giả” phải luôn có sự dổi mới, không “lặp lại” theo một khuôn mẫu máy móc. Tuy nhiên, cái cách mà Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (The Committee to Protect Journalists, gọi tắt là CPJ) đã làm khi trao giải thưởng “tự do báo chí” cho Bloger “điếu cày” ngày 26 tháng 11 năm 2013 thì lại chính là hành động sử dụng một kịch bản cũ. Sở dĩ nói như vậy bởi vì việc làm đó cũng chẳng khác gì cái cách mà  Index on Censorship (tổ chức quốc tế chuyên bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm và quyền tự do báo chí có trụ sở tại London, Anh Quốc) đề cử trao giải thưởng cho Tạ Phong Tần…Thực chất của kịch bản này không có gì lạ. Bloger “điếu cày” chính là diễn viên được đào tạo bởi những đồng “đô la đen” của các thế lực chống đối Nhà nước Việt Nam. Điều đặc biệt là diễn viên “điếu cày” đã ăn sâu một tư tưởng phản bội lại lợi ích của toàn thể dân tộc, vì vậy mọi hoạt động của “điếu cày” đều chỉ phục vụ cho chính lợi ích của mình và của “đạo diễn” đang trả lương cho “điếu cày” mà thôi. Trong suốt thời gian qua, hành vi vi phạm pháp luật của “điếu cày” đã rõ. Bản thân “điếu cày” đã thừa nhận hành vi vi phạp của mình và phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Có thể thấy một thời gian dài hành vi vi phạm của bloger “điếu cày” đã nhuộm một màu xám trên nhiều diễn đàn mạng. Mặc dù vi phạm của bloger “điếu cày’ đã rõ như ban ngày nhưng một số đối tượng vẫn cố tình “diễn tiếp vở múa rối” khi liên tục tổ điểm và tâng bốc bloger “điếu cày”. Thậm chí còn hung hồn đưa ra cái gọi là “ tuyên bố 258” và liên tục viết bài, kêu gọi sự ủng hộ cho tuyên bố này. Trước những vi phạm đã rõ của bloger điếu cày cùng  những bức xúc của đông đảo cư dân mạng về hành vi vi phạm pháp luật của bloger “điếu cày” nhưng CPJ vẫn thực hiện ý đồ “trao giải thưởng” cho bloger “điếu cày” thì rõ ràng đây là hành động cố tình “diễn lại một kịch bản cũ” mà thôi. Vấn đề là: diễn viên tồi, đạo diễn xấu, kịch bản cũ…thì chỉ nhận được “gạch đá” của dư luận mà thôi.
                                                                              Tử trầm Sơn


Read more…

Xuyên tạc Hiến pháp là phản bội lại lợi ích của nhân dân và của dân tộc



                                                                                            Lâm Trấn
Như chúng ta đã biết, sáng ngày 28/11/2013, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013 với tỉ lệ đồng ý gần như tuyệt đối (486/488 đại biểu tán thành). Bản Hiến pháp sửa đổi lần này đã thể hiện được kết tinh trí tuệ, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta mà nói ví von như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì “Hiến pháp đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân”.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ngày 2-1-2013, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến nhân dân. Sau một thời gian tiếp thu ý của các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, tổ chức, Ban soạn thảo, biên tập Hiến pháp sửa đổi đã xây dựng thành một bản Hiến pháp hoàn chỉnh trình Quốc hội thông qua. Bản Hiến pháp sửa đổi lần này đã nhận được sự quan tâm sâu sắc, rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của toàn dân tộc, nhiều vấn đề nhận được sự quan tâm đã được sửa đổi, bổ sung hợp lý, thuyết phục với những giải trình, phân tích rõ ràng, cụ thể. Có rất nhiều điểm mới trong Dự thảo so với Hiến pháp năm 1992 đã được xây dựng từ những ý kiến góp ý xác đáng của các tầng lớp nhân dân cả nước. Ðáng chú ý, Ðiều 2, Ðiều 3, Điều 4, chương II quy định về quyền con người… Qua những sửa đổi, bổ sung và quy định nêu trên, chúng ta thấy rõ vai trò, vị trí, sức mạnh của nhân dân luôn được Hiến pháp đặt lên hàng đầu. Nói cách khác, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 là sự kết tinh trí tuệ, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, phù hợp với lợi ích của dân tộc Việt Nam, là động lực để dân tộc ta tiếp tục phát triển.
Tuy nhiên, sau khi bản Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua, trên một số diễn đàn, trang mạng trên Internet xuất hiện các bài viết, bình luận mang tính quy chụp, xuyên tạc nội dung của bản Hiến pháp sửa đổi. Thậm chí một số trang mạng thiếu thiện chí như BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt, dân làm báo... còn cho đăng, trích dẫn lời nói của một số cá nhân thiếu thiện chí, chống đối lớn tiếng cho rằng: Bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013 là một “bước lùi của lịch sử”, “Quốc hội khoá XIII là có tội với Tổ quốc và nhân dân”, “cá nhân các đại biểu Quốc hội đã ấn nút thông qua sẽ chịu trách nhiệm nặng nề trước tổ quốc, trước dân tộc”... Đây rõ ràng là một định kiến, sự quy chụp, xuyên tạc, thiếu thiện chí, thù địch của một số cá nhân, tổ chức đối với Việt Nam.

Bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được thông qua trên cơ sở lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và ngoài xã hội, là sự kết tinh trí tuệ, thể hiện ý chí tập thể, tinh thần đoàn kết, sự đồng thuận cao của nhân dân và toàn dân tộc ta. Thế nhưng vì những mục đích, động cơ khác nhau, một số kẻ đã “cố đấm ăn xôi” tìm mọi cách xuyên tạc nội dung của Bản Hiến pháp, kêu gọi quốc tế lên tiếng can thiệp… Đó thực sự chỉ là những hành động của một ít những kẻ thiếu lương tri, trách nhiệm, là hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc Việt Nam.
Read more…

Hiến pháp sửa đổi năm 2013: Bản Hiến pháp của lòng dân


                                                                                            Người con đất Việt
10h sáng ngày 28/11/2013 với 486/488 đại biểu có mặt đã biểu quyết tán thành thông qua bản Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), đạt tỉ lệ 97,59%. Đây là một sự đồng thuận, nhất trí cao của toàn thể các đại biểu Quốc hội, thể hiện sức mạnh tập thể, là kết tinh của trí tuệ, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng và toàn dân ta. Phát biểu trước Quốc hội trong lúc chuẩn bị thông qua bản Hiến pháp sửa đổi, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: “Bản Hiến pháp được Quốc hội thông qua lần này đã thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dân để chúng ta có thể yên tâm thông qua. Đây là một bản Hiến pháp đã chuẩn bị công phu, tâm huyết với tinh thần làm việc tận tụy, khoa học và nó thực sự là bản Hiến pháp đổi mới cho một thời kỳ mới của đất nước chúng ta”.
Trước đó để có được bản Hiến pháp sửa đổi hoàn chỉnh, Quốc hội đã tổ chức việc lấy ý kiến của nhân dân và toàn thể hệ thống chính trị một cách khẩn trương, đồng bộ, dân chủ và rộng khắp nhằm phát huy hết trí tuệ của cả dân tộc xây dựng một bản Hiến pháp hoàn chỉnh, phù hợp với bối cảnh tình hình mới của lịch sử Việt Nam và thế giới. Theo báo cáo của các cơ quan, tổ chức đã có hơn 26 triệu lượt ý kiến góp ý của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, với hơn 28.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức. Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Ủy ban DTSÐHP) đã tập hợp, tổng hợp đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực ý kiến của nhân dân. Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp của Ủy ban DTSÐHP - hơn 800 trang, Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp của các cơ quan của QH, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan của Trung ương Ðảng, Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam - khoảng 1.600 trang[1].  Đây là những con số biết nói, thể hiện tinh thần làm việc trách nhiệm, hiệu quả, là sự kết tinh trí tuệ của toàn dân tộc ta.
Mặc dù còn một số ý kiến khác nhau, chẳng hạn như có ý kiến cho rằng cần đổi tên nước, bỏ Điều 4, thành lập Hội đồng bảo hiến… tuy nhiên trên tinh thần đoàn kết, tập thể, đồng thuận cao, cái gì đã rõ thì thực hiện cái gì chưa rõ thì tiếp tục tiếp thu nghiên cứu, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp với sự đồng thuận tuyệt đối. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết, thể hiện sức mạnh tập thể, truyền thống quý báu từ ngàn đời xưa của dân tộc ta. Việc Quốc hội thông qua bản Hiến pháp sửa đổi sau khi đã lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và ngoài xã hội là một kết quả quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là điều kiện thuận lợi để chúng ta tiếp tục xây dựng đất nước Việt Nam phát triển giàu mạnh trong tương lai.







[1] Hiến pháp kết tinh trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta. Báo Nhân dân điện tử ngày 28/11/2013
Read more…

Bàn chuyện ở đời…


                                                                                            Lâm Trấn
Ở đời ai hay làm những điều thiện, điều tốt ắt sẽ được mọi người yêu quý và ngược lại ai hay làm những chuyện có lợi cho mình nhưng có hại cho người khác thì người đó ắt hẳn sẽ bị mọi người khinh bỉ. Có câu chuyện kể rằng hai năm nay, ở Bệnh viện K (cơ sở Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội), cả bệnh nhân cũ, lẫn bệnh nhân mới, ai cũng biết đến vợ chồng anh Đỗ Minh Hòa - chị Phạm Thị Lan Hương cùng tất cả các thành viên trong nhóm "Hướng thiện". Công việc của họ cũng giống như rất nhiều những đoàn thiện nguyện khác là mang đến bát cháo sẻ chia cho những bệnh nhân ung bướu ở đây. Nhưng điều đặc biệt ở chỗ, những người hì hục khiêng cháo, ân cần phát sữa cho bệnh nhân ở đây lại là những người từng có thời gian cải tạo tại Trại giam Phú Sơn 4, mà có lúc họ là nỗi đau buồn tủi hổ của gia đình và là nỗi lo lắng của xã hội. Hai vợ chồng anh và những thành viên trong nhóm được mọi người từ các y, bác sĩ đến những bệnh nhân và gia đình những người bệnh hết mức yêu thương.
Cũng có câu chuyện kể rằng vào đời nhà Tống (960-1729),  một quan viên rất xảo trá có nhiều quyền lực đến nỗi ông ta có thể lừa bịp cả công chúng. Nhưng bởi vì ông ta đã làm nhiều điều tà ác, gồm có làm giả tội trạng để giết những người tốt, ông ta đã phải gánh chịu nghiệp hồi báo ngay tức khắc. Các cục ung nhọt mọc lên trên lưng ông ta và ông ta đã chết trong đau đớn. Sau khi ông ta chết đi, hình ảnh của ông ta được rèn thành một cái tượng bằng sắt quỳ xuống trước ngôi mộ của Nhạc Phi (một anh hùng của triều đại nhà Tống, bị giết hại bởi Tần Cối), nơi mà ông ta đã chịu sự nguyền rủa của người dân qua gần cả ngàn năm. Đấy là cái giá phải trả cho những người chuyên làm điều ác cũng như những giá trị cao cả mà những người luôn làm việc thiện xứng đáng được hưởng.
Tại sao tác giả bài viết này lại dẫn dắt câu chuyện như vậy? Bởi ở đời không thể không bàn đến câu chuyện thiện và ác cũng như không thể không bàn đến chuyện những người được mọi người yêu mến và những người luôn bị mọi người khinh bỉ. Nhân chuyện ông Hà Huy Sơn hôm 23/11 vừa rồi gửi thư lên Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và một số cá nhân, cơ quan chức năng khác để phản đối việc ông không được Đoàn luật sư thành phố Hà Nội mời dự Đại hội nhiệm kỳ IX của Đoàn luật sư thành phố. Chúng ta khoan hãy bàn tới lý do vì sao Hà Huy Sơn không được mời? Bởi cái gì nó điều có nguyên do của nó cả. Trước hết chúng ta hãy xem Hà Huy Sơn có đủ tư cách để được dự đại hội, được mang trên mình danh hiệu luật sư hay không?
Hẳn mọi người còn nhớ sự việc bà Lê Hiền Đức gây rối tại trụ sở Sở Thông tin truyền thông Hà Nội, khi đó với tư cách là một luật sư, là người chứng kiến sự việc và có quan hệ với bà Lê Hiền Đức, Sơn không những không can ngăn việc là sai trái của bà Đức mà trái lại Sơn đã liều lĩnh ra công an phường báo việc bà Đức bị “giam giữ trái pháp luật” tại Sở Thông tin và truyền thông. Tận mắt chứng kiến cảnh chẳng ai rỗi hơi thèm giữ cái lão bà bà kiếm sống bằng nghề bán tự trọng này và cả màn kịch ăn vạ đến trơ trẽn của bà Đức nhưng Sơn vẫn không từ bỏ ý định. Thậm chí được chính cán bộ của Sở yêu cầu Sơn đưa bà Hiền Đức ra khỏi Sở nhưng y vẫn cố tình sắm vai hậu đài, kích động bà Đức tiếp tục màn ăn vạ tại đây. Rồi mới đây nhất, khi phiên toà xét xử Nguyễn Phương Uyên về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước”, Sơn đã viết bài cho rằng Phương Uyên vô tội bởi vì “Phương Uyên có nói là trước đó được một người ở nước ngoài tặng 100 đô chứ người ta không có nói là làm cái gì cả, rồi sau đó khi đi rải truyền đơn với Đinh Nguyên Kha thì Kha mượn cái máy ảnh để chụp hình, tức là không phải Phương Uyên mua máy ảnh để làm cái việc ngày hôm đó, việc mua máy ảnh đã có trước rồi.”; “Phương Uyên có viết Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam, thì đây là những điều đáng biểu dương, chứ không phải truy tố theo luật hình sự Việt Nam”… và còn nhiều lần Sơn mượn cớ bào chữa cho các đối tượng chống đối Nhà nước bị ta bắt, xử lý để tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta nhằm kiếm vài đồng từ các cá nhân, tổ chức bên ngoài. Những việc làm của Hà Huy Sơn ngay cả với một công dân bình thường cũng đáng bị xã hội lên án chứ đừng nói gì là một luật sư.

Việc chọn người tham dự những sự kiện như Đại hội, gặp mặt… Ban tổ chức bao giờ cũng chọn những người xứng đáng. Việc Hà Huy Sơn không được mời tham dự đại hội khi không đủ những điều kiện để được tham dự đó là chuyện hết sức bình thường, không có gì phải to tát, ầm ĩ viết thư này, thư nọ gửi cho nơi này, nơi kia. Người xưa đã từng dạy “đẹp đẽ khoe ra, xấu xa đậy lại”. Trong trường hợp này Hà Huy Sơn đáng lẽ là người phải biết rõ điều đấy nhất. Thế nhưng ông ta đã không biết che đậy cái xấu của mình lại mà lại khoe ra thì đó rõ là một điều thật đáng xấu hổ.
Read more…

Cần nhìn nhận khách quan về việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam

Khổng Tử
                                                                                            Người con đất Việt
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nhân dịp Thủ tướng Lý Khắc Cường sang thăm Việt Nam hồi tháng 10 vừa qua, hai bên đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một vấn đề thu hút được sự chú ý của dự luận đó là việc hai bên nhất trí ký kết văn bản hợp tác thỏa thuận về việc thành lập Viện Khổng Tử tại Trường Đại học Hà Nội nhằm truyền bá những tư tưởng cao cả của Khổng tử đến với người dân Việt Nam.
Khổng Tử (551 - 479 TCN), là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á. Người Trung Quốc đời sau đã tôn xưng ông là Vạn thế Sư biểu (Bậc thầy của muôn đời). Những tư tưởng của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đối với xã hội Trung Quốc mà còn có ảnh hưởng lớn đối với nhiều quốc gia khác, không chỉ có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội cổ đại mà cho đến ngày nay nhiều tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị. Chẳng hạn, tư tưởng triết học của Khổng Tử chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân trước tiên, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: "Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình Thiên hạ". Ông cũng nhấn mạnh vào Ngũ thường: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín". Nhân là lòng từ thiện, Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói. Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối loạn. Về giáo dục, Khổng Tử nhấn mạnh: cả thầy và trò đều phải có nghĩa vụ to lớn với nhau. Trò phải tôn kính thầy, dẫu sau này có thành đạt, quyền cao chức trọng đến đâu chăng nữa cũng không được bỏ rơi lễ nghĩa, vẫn luôn phải cung kính thầy. Ngược lại, người thầy thì phải có tư cách mẫu mực để làm gương cho trò. Người thầy có can trực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước. Về vũ trụ quan, tư tưởng của Khổng Tử thể hiện bằng tám quẻ: Càn là Trời, Khôn là Đất, Ly là mặt Nhật, Khảm là mặt Nguyệt... 
Những tư tưởng của Khổng Tử không chỉ giáo dục con người biết hướng tới cái thiện, cái hoàn mỹ mà còn phù hợp với người Phương Đông chúng ta. Tuy nhiên, ngay sau khi có chủ trương thành lập Viện Khổng Tử ở Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Nhà nước ta đã lập ra các diễn đàn, viết bài đăng tải trên các trang mạng phản đối việc này, thậm chí nhiều người còn quy kết cho rằng đó là sự xâm lăng của văn hoá Trung Quốc…

Thiết nghĩ trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại là hết sức cần thiết, nhất là khi những văn hoá đó lại phù hợp với đất nước, con người Việt Nam. Bởi vậy, việc chúng ta chủ trương thành lập Viện Khổng Tử không có gì sai, bởi những tư tưởng của Khổng Tử có giá trị hết sức to lớn, góp phần giáo dục con người biết hướng về cái thiện, biết làm những điều hay lẽ phải, sống thế nào cho có đạo lý. Đó là những điều đáng được tiếp thu và trân trọng.
Read more…

Đáng buồn cho một tổ chức


                                                                                            Khoaito@
Ủy ban bảo vệ các nhà báo (Committee to Protect Journalists, viết tắt là CPJ), có trụ sở tại thành phố New York, là một tổ chức phi chính phủ hoạt động độc lập với mục tiêu bảo vệ tự do báo chí trên khắp thế giới. Đấy là trên danh nghĩa còn thực chất thì tổ chức này lại hoàn toàn không phải như vậy. Đặc biệt nhìn vào những hoạt động của tổ chức này trong những năm vừa qua thì thực tế cho thấy tổ chức chỉ được núp dưới cái vỏ bọc “bảo vệ tự do báo chí” mà thôi. Lâu nay những người đứng đầu tổ chức này vẫn vỗ ngực tự nhận mình là một tổ chức phi chính phủ hoạt động giám sát các vụ vi phạm tự do báo chí khắp thế giới và bảo vệ các nhà báo bị truy hại vì thực thi quyền tự do ngôn luận của mình. Thế nhưng, giwof đây ai cũng biết tỏng rằng do bị lệ thuộc vào nguồn kinh phí từ một số tổ chức và quốc gia có sự khác biệt về thể chế chính trị với Việt Nam nên tổ chức “Ủy ban Bảo vệ Nhà báo” CPJ không còn giữ được tôn chỉ mục đích của mình.
Là một tổ chức có tôn chỉ, mục đích rõ ràng và lại được lập ra để hoạt động nhằm thúc đẩy tự do báo chí, bảo vệ các quyền của nhà báo ở các quốc gia nhưng tổ chức này đã không thực hiện đúng với tôn chỉ, mục đích của mình, núp dưới cái vỏ bọc, chiêu bài “bảo vệ các nhà báo tự do trên thế giới” để làm những chuyện phi pháp, đi ngược lại với lợi ích của nhiều quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam, thời gian qua tổ chức này đã lợi dụng việc “bảo vệ các nhà báo” để đưa ra những nhận xét, đánh giá mang tính quy chụp, xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam bắt giữ các “nhà báo”... Đặc biệt, CPJ còn lợi dụng việc này để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, lập ra cái gọi là giải thưởng “Tự do báo chí Quốc tế” để trao cho một số đối tượng chống đối ở trong nước, những đối tượng lợi dụng việc hoạt động báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân. Tháng 9 vừa rồi, tổ chức này đã tự mình trao cái gọi là giải thưởng “Tự do báo chí quốc tế năm 2013” cho Nguyễn Văn Hải (tức Điếu cày) - đối tượng đang thụ án 12 năm tù vì phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Sự việc đã rõ như ban ngày, vậy mà CPJ vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật khi cho rằng Việt Nam "vi phạm tự do báo chí", "bắt bớ xâm hại nhà báo"...

Việc làm của CPJ khiến dư luận không khỏi bất bình. Bị dư luận lên án, công chúng phản đối thế mà những người đứng đầu tổ chức này không biết xấu hổ mà vẫn mặt dầy đưa ra những nhận xét, tuyên bố này tuyên bố nọ. Mới đây nhất, ngày 21/11 vừa rồi tổ chức này đăng thông báo mở “chiến dịch” đòi Nhà nước Việt Nam trả tự do cho Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu cày). Không rõ mục đích thực sự lần này của “Uỷ ban bảo vệ nhà báo” là gì nhưng chắc ai cũng có thể hiểu, đó lại là một hành động phi lý của tổ chức này. Có lẽ trong lúc quẫn bách không biết làm gì để lấy lại uy tín của mình, tổ chức này lại tiếp tục làm những chuyện mà đến đứa trẻ cũng phải buồn cười. Ai đời, một đối tượng như Điếu cày, một tên tội phạm đích thực lại được một tổ chức mang cái mác là “tổ chức quốc tế” kêu gọi để trả tự do. Việc làm đó có xứng đáng với cái danh một tổ chức phi chính phủ, hoạt động nhằm bảo vệ tự do báo chí trên khắp thế giới, bảo vệ các nhà báo hay không? Có lẽ câu trả lời chính xác nhất thì chỉ có những người bầy ra cái trò này mới có thể trả lời chính xác nhất. Tuy nhiên, suy cho cùng chính việc phải phụ thuộc vào nguồn "nuôi sống" mình, phụ thuộc vào một số tổ chức và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam đã biến CPJ trở thành công cụ phục vụ cho mục đích của một số tổ chức và các quốc gia đã "nuôi sống" họ. Thật đáng buồn cho những người tự nhận mình là một tổ chức.
Read more…

Lê Thăng Long sao lại lật lọng như vậy?


                                                                                            Lâm Trấn
Ngày 22/11/2013, trang BBC tiếng Việt đăng tải bài viết “Tôi bị ép cung từ khi bắt tới lúc xử” không đề tên tác giả đề cập đến lời cáo buộc của Lê Thăng Long (người đã bị toà án tuyên phạt 5 năm tù giam vì tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 2010). Theo đó, Lê Thăng Long cho rằng mình bị ép cung trong quá trình bị giam giữ và xét xử. Theo những thông tin được đề cập trong bài viết này thì Lê Thăng Long cho rằng cơ quan điều tra trong quá trình điều tra đã liên tục mớm cung, cố ý làm sai trái lời khai của ông và gây áp lực buộc ông và những bị cáo khác trong cùng vụ án phải nhận tội. Lê Thăng Long nói với BBC: "Trong quá trình điều tra, họ gây sức ép rất là nhiều, kể cả mớm cung, kể cả viết sai lệch những quá trình trình bày trước cơ quan điều tra... Họ gây sức ép và họ nói thẳng, họ gây những áp lực tâm lý, họ đe dọa rất nhiều, nếu anh không chịu thay đổi như vậy, anh sẽ gặp chuyện…”.
Không biết đây có thực sự là lời nói của Lê Thăng Long thực hay không? Nếu đó là lời nói thật của con người này thì thật đáng buồn bởi sự lật lọng, tráo trở của một con người. Tại sao ông cho rằng mình bị ép cung, mớm cung thế mà trong quá trình xét xử ông không lên tiếng, trong khi lại cúi đầu nhận tội, xin được hưởng sự khoan hồng. Nay đã được Nhà nước cho ra tù trước thời hạn đã không biết ăn năn hối cải lại còn lật lọng, đổi trắng thay đen như vậy. Có lẽ vì nhân lúc dư luận đang đổ dồn sự chú ý đến vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn được trả tự do sau 10 năm ngồi tù oan nên Lê Thăng Long đã “thừa nước đục thả câu” nhằm quy kết cho cơ quan điều tra và lực lượng chức năng.
Hẳn chúng ta còn nhớ, đầu năm 2010, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79 Bộ luật Hình sự. Theo bản cáo trạng thì bị cáo Lê Thăng Long là đối tượng tham gia hoạt động trong tổ chức có tên gọi “Nhóm nghiên cứu chấn” từ tháng 4 năm 2007, Lê Thăng Long đã tách khỏi tổ chức “Nhóm nghiên cứu chấn”, thành lập “Phong trào chấn hưng nước Việt” và các hoạt động “Câu lạc bộ chấn hưng nước Việt”, viết bài có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kết thúc phiên toà sơ thẩm Toà án tuyên phạt Lê Thăng Long 5 năm tù giam và 3 năm quản chế. Tháng 5/2010, Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử Trần Huỳnh Duy Thức và đồng bọn. Tại phiên toà Lê Thăng Long luôn cúi đầu nhận tội và luôn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ tội cho mình để có điều kiện báo hiếu gia đình. Tôi vẫn còn nhớ như in lời của Lê Thăng Long: “Lúc ban đầu tôi chỉ tinh cờ ngẫu nhiên tham gia “Nhóm nghiên cứu Chấn”. Tôi thuộc tầng lớp doanh nhân, trí thức nên tiếp xúc rất nhiều với bên ngoài dẫn đến có sự nhầm lẫn trong nhận thức...”. Lê Thăng Long còn nói thêm: “Gia đình tôi hiện rất khó khăn, tôi xin tòa khoan hồng để sớm được hoàn thành trách nhiệm của người cha, người chồng, hoàn thành chữ hiếu của người con”.
Sau khi nghe bị cáo tình bày, Viện kiểm sát đã ghi nhận đây là tình tiết mới trong diễn biến phiên tòa và nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thái độ ăn năn, hối cải của bị cáo để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt. Cuối cùng toà đã bác đơn kháng cáo của Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung. Riêng Lê Thăng Long, căn cứ vào những lời nhận tội của bị cáo và thái độ ăn năn hối cải, đồng thời gia đình có những đóng góp cho đất nước nên Hội đồng xét xử quyết định giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 5 năm tù xuống 3 năm 6 tháng tù giam.
Không những thế, trong quá trình chấp hành án phạt tù, Nhà nước đã tiếp tục thực hiện chính sách nhân đạo, cho Lê Thăng Long được ra tù được thời hạn 6 tháng. Ấy vậy mà ông ta không biết cảm ơn Nhà nước, không biết trở về với cuộc sống lương thiện, làm lại cuộc đời nay lại giở trò lật lọng, tráo trở vu khống lực lượng chức năng, xuyên tạc, bịa đặt sự thật. Như vậy có thực sự đáng buồn, đáng bị lên án hay không?  


Read more…

Đoàn kết dân tộc là sức mạnh vô địch để Việt Nam chiến đấu và chiến thắng, vượt qua mọi thách thức của lịch sử


                                                                                            Người con đất Việt
Đoàn kết dân tộc là truyền thống và di sản văn hóa quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhờ truyền thống đó mà dân tộc ta đã đánh thắng biết bao kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền, xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Đoàn kết là chìa khoá của thành công. Có lần Người còn căn dặn:“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”. Đoàn kết là truyền thống quý báu ngàn đời của dân tộc ta, là sức mạnh vô địch để dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng, vượt qua thách thức của lịch sử. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,  xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc chính là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chữ dân được hiểu đó là đồng bào cả nước, đồng bào các thành phần dân tộc Việt Nam dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất này. Đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là vấn đề sinh tồn của dân tộc. Chỉ có đoàn kết dân tộc mới tồn tại, nhân dân và chế độ mới tồn tại.
Kế thừa truyền thống quý báu đó, ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tạo nên sức mạnh vô địch đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng hùng cường, phát triển.
Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn là nguồn lực quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để Đảng ta, nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những ngày này, tuần lễ “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hoá Việt Nam” đang diễn ra, đó không chỉ là dịp để chúng ta tái hiện lại quá trình dựng nước, giữ nước, giới thiệu, tôn vinh những nét đẹp, nét đặc sắc, những giá trị văn hoá riêng của từng miền mà còn là một dịp quan trọng để chúng ta củng cố, hun đúc, phát huy truyền thống tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc - di sản quý báu nhất của cha ông truyền lại. Mong rằng tất cả chúng ta ngày nay, mỗi con dân đất Việt hãy tiếp tục hun đúc, phát huy truyền thống quý báu này, tăng cường đoàn kết, cùng nhau sát cánh, đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Luôn xứng đáng với những gì mà cha ông ta đã gây dựng và truyền lại.


Read more…

Nâng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao mới

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Manmohan Singh

                                                                                            Người con đất Việt
Sau 3 ngày thăm và làm việc tại Ấn Độ, ngày 22/11/2013 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp nhà nước tới đất nước Ấn Độ. Chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đang có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt khi hai nước đã nâng tầm quan hệ thành đối tác chiến lược.
Mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là mối quan hệ song phương chặt chẽ. Mối quan hệ hữu nghị truyền thống đã có từ ngàn đời nay. Ngay từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên sự giao lưu kinh tế và văn hoá giữa Việt Nam và Ấn Độ đã bắt đầu được xây dựng. Sau này mối quan hệ đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà Lãnh đạo Ấn Độ như Gandhi, Nehru đặt nền móng. Năm 1992, hai nước thiết lập mối quan hệ kinh tế toán diện, bao gồm thăm dò dầu khí, nông nghiệp và chế tạo. Quan hệ giữa hai nước, đặc biệt là về quốc phòng đã được hưởng lợi toàn diện nhờ chính sách hướng Đông (Look East policy) của Ấn Độ. Năm 2007, sau chuyến thăm Ấn Độ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hai nước đã ký Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác chiến lược. Từ đó cho tới nay mối quan hệ này tiếp tục được gìn giữ và phát triển.
Chính vì vậy mà khi đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Ấn Độ, thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã mô tả như đón “một người bạn, một nhà lãnh đạo của một đất nước đã trở thành biểu tượng của sự bền bỉ, quyết tâm và chủ nghĩa anh hùng cho nhiều thế hệ người Ấn Độ, một đất nước đang trở thành một nền kinh tế đầy sức sống nằm giữa một khu vực năng động”. Chúng ta cũng còn nhớ chỉ một tuần sau ngày Giải phóng Thủ đô, ngày 17/10/1954, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlan Nehru là vị đứng đầu chính phủ nước ngoài đầu tiên tới thăm Việt Nam và gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân Việt Nam cũng không bao giờ quên khẩu hiệu nổi tiếng ở Ấn Độ “tên Anh, tên Tôi, tên Chúng ta: Việt Nam, Việt Nam” thể hiện tình cảm đoàn kết, sát cánh của nhân dân Ấn Độ với Việt Nam trong cuộc chiến đấu gian khổ chống xâm lược nước ngoài, giành lại độc lập, thống nhất đất nước. 
Bởi vậy, chuyến thăm Ấn Độ lần này của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hứa hẹn sẽ đem lại những xung lực mới để mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống, lâu đời, đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ. Trong chuyến thăm này, Tổng thống Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, hội kiến với Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee, Phó Tổng thống Shri Hamid Ansari, Chủ tịch Hạ viện Meira Kumar gặp Bộ trưởng Ngoại giao Salman Khurshid và lãnh đạo một số chính đảng ở Ấn Độ. Đặc biệt, qua các cuộc hội đàm, hội kiến, hai bên bày tỏ hài lòng về sự phát triển toàn diện, mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ thời gian qua nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có những mục tiêu chung về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang có những diễn biến phức tạp, khó lường việc Đảng, Nhà nước ta tiếp tục củng cố quan hệ với các đối tác truyền thống có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để Việt Nam tiếp tục củng cố và phát triển uy tín, tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực và trên thế giới.


Read more…

Nguyễn Xuân Nghĩa và cái gọi là giải thưởng “Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba”

Nguyễn Xuân Nghĩa

                                                                                            Khoaito@
Một giải thưởng nào đó bao giờ cũng được lập ra để trao cho những người xứng đáng được nhận. Tuy nhiên, trên thực tế không phải giải thưởng nào cũng đúng với ý nghĩa của nó, cũng có những giải thưởng được lập ra để sử dụng vào những mục đích không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm. Điều này đã làm hoen ố, méo mó đi những giải thưởng truyền thống. Sự kiện Nguyễn Xuân Nghĩa (đối tượng đang thụ án 6 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) được tổ chức “Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập” (Indepenent Chinese Pen Center - ICPC) trao giải thưởng “Liu Xiaobo Courage to Write” (Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba) năm 2013 vào ngày 18/11 vừa qua là một sự kiện như thế. Theo những người đứng đầu tổ chức “Trung tâm Văn bút Trung Hoa độc lập” thì giải thưởng này được lập ra nhằm “vinh danh những nhà văn, nhà thơ can đảm chống bạo quyền độc tài hay đảng trị trên thế giới”. Tuy nhiên, trên thực tế nó lại đi ngược lại hoàn toàn với mục đích đó, trở thành trò cười, là một thủ đoạn mà những đối tượng xấu dùng để tán dương nhau.
Sở dĩ tại sao tác giả lại nói như vậy? Để có câu trả lời chính xác chúng ta hãy cùng xem người được nhận giải thưởng này là ai? Tổ chức trao giải thưởng là tổ chức nào? Và thực sự của giải thưởng này là gì?
Trước hết, chúng ta hãy bàn tới chủ nhân của giải thưởng này. Nguyễn Xuân Nghĩa sinh năm 1949 tại Nghệ An, trú tại Hải Phòng. Hiện đang thụ án 6 năm tù về tội  “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam qui định tại Điều 88 - Bộ luật Hình sự. Theo Bản kết luận điều tra của Cơ quan an ninh: Từ năm 2007, theo đề nghị của linh mục Phan Văn Lợi (ở Huế), Nguyễn Xuân Nghĩa đã tham gia Ban đại diện lâm thời Khối 8406 (là tổ chức chống Nhà nước do các linh mục Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi dựng lên) và tuyên truyền vận động người tham gia khối này. Nghĩa đã giới thiệu hai đối tượng là Vi Đức Hồi (ở Lạng Sơn), Nguyễn Bá Đăng (ở Hải Dương) tham gia Khối 8406; Nghĩa là người cấp phương tiện và tiền chi phí hoạt động cho nhiều đối tượng chống đối khác như trang bị máy vi tính cho Phạm Thanh Nghiên, Nghĩa và Nghiên đã nhận tiền của nước ngoài rồi đưa 12,8 triệu đồng cho Trần Đức Thạch về Thanh Hóa kích động dân khiếu kiện biểu tình. Từ năm 2007 cho đến khi bị bắt giam (tháng 9/2008), Nghĩa đã viết 57 bài với nhiều hình thức như thơ, văn, truyện ngắn và ký sự… trong đó nhiều bài có nội dung chống đối Nhà nước CHXHCN Việt Nam, phỉ báng Đảng Cộng Sản Việt Nam, xuyên tạc tình hình đất nước, nói xấu, bôi nhọ Lãnh tụ của đất nước; đòi đa nguyên đa đảng, đòi xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam, kích động, lôi kéo ngưới khác chống đối… Nguyễn Xuân Nghĩa đã gửi các bài viết của mình đến các trang web phản động như Hưng Việt, Đối Thoại, Thông Luận, Tự Do Ngôn Luận, Tổ Quốc và Đài Châu Á Tự Do… để đăng tải. Nguyễn Xuân Nghĩa khai đã nhận tổng cộng khoảng 3.300 USD tiền từ các cá nhân nước ngoài để chi dùng cho bản thân và dùng vào các hoạt động chống đối trong nước… Căn cứ vào những hành vi phạm tội của Nguyên Xuân Nghĩa, tòa án đã tuyên phạt Nguyễn Xuân Nghĩa 6 năm tù giam và 3 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, về cái gọi là giải thưởng “Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba”. Theo những người đứng đầu Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập” (ICPC), giải thưởng này được lập ra nhằm “vinh danh những nhà văn, nhà thơ can đảm chống bạo quyền độc tài hay đảng trị trên thế giới”. Giải thưởng “Can đảm Lưu Hiểu Ba” được lập ra vào năm 2006 mang danh Lưu Hiểu Ba, nguyên chủ tịch ICPC. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là giải thưởng được lập ra nhằm cổ vũ, động viên, khích lệ, hậu thuẫn về vật chất và tinh thần cho những đối tượng chống đối ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền Trung Quốc bắt giam vì tham gia viết Hiến chương 08 và bị kết án 11 năm tù và hai năm bị tước quyền chính trị vì tội "tuyên truyền kích động chống phá nhà nước Trung Quốc" năm 2009.  
Như vậy, việc Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập” trao giải thưởng “Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba” năm 2013 cho Nguyễn Xuân Nghĩa thực chất sự cổ vũ, hà hơi, tiếp sức cho Nguyễn Xuân Nghĩa cũng như một số đối tượng chống đối khác, giúp số đối tượng chống đối này nuôi ước mơ, ảo vọng chống đối khi được ra tù. Đó là một hành động không thể chấp nhận và đi ngược lại với lợi ích của dân tộc Việt Nam, là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam của một số cá nhân, tổ chức đội lốt tổ chức quốc tế để làm những chuyện phi pháp.


Read more…

Lại một trò cũ được diễn lại

Đối tượng Nguyễn Xuân Nghĩa
                                                                                            Người con đất Việt
Ngày 19/11/2013, một số trang mạng đưa tin Nguyễn Xuân Nghĩa (đối tượng đang thụ án 6 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) được tổ chức “Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập” (Indepenent Chinese Pen Center - ICPC) trao giải thưởng “Liu Xiaobo Courage to Write” (Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba) năm 2013 nhằm “vinh danh sự bền bỉ và can đảm viết của hai ông mặc dù phải đối diện với đe dọa của tù đày”.
Việc trao một số tổ chức mang danh nghĩa “tổ chức quốc tế” trao các giải thưởng cho những đối tượng hiện đang phải chịu các bản án do vi phạm pháp luật Việt Nam không còn là điều xa lạ. Chỉ từ đầu năm 2013 đến nay, một số tổ chức như: tổ chức “Uỷ ban bảo vệ nhà báo” (CPJ); tổ chức Hội văn bút Canada” (PEN Canada), Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam… đã tiến hành trao các “giải thưởng quốc tế” cho một số đối tượng chống đối ở trong nước đang chịu hình phạt tù trong các trại giam. Điển hình như: Ngày 27/9 tổ chức “Uỷ ban bảo vệ nhà báo” (CPJ) có trụ sở tại Mỹ trao giải thưởng “Tự do báo chí quốc tế 2013”  cho Nguyễn Văn Hải (tức blgger Điếu cày). Ngày24/10 tổ chức “Hội văn bút Canada” (PEN Canada) trao giải thưởng “One Humanity Award” trị giá 5,000 đô la cho Nguyễn Văn Hải (blgoger Điếu cày) - đối tượng đang thụ án 12 năm tù giam về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Ngày 11/10/2013, tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã trao “Giải thưởng nhân quyền 2013” cho 3 đối tượng chống đối gồm Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng… Mục đích chính của các tổ chức này thông qua việc trao các “giải thưởng” thực chất là sự khích lệ, cổ vũ và hậu thuẫn cho các đối tượng này về vật chất cũng như tinh thần để “tiếp sức” cho chúng nuôi ảo mộng chống đối khi được ra tù.
Như vậy, việc Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập” (Indepenent Chinese Pen Center - ICPC) trao giải thưởng “Ngòi bút can đảm Lưu Hiểu Ba” năm 2013 cho Nguyễn Xuân Nghĩa cũng không nằm ngoài mục đích trên. Đây chẳng khác nào là sự cổ vũ, hà hơi, tiếp sức cho số đối tượng chống đối này nuôi ước mơ, ảo vọng chống đối khi được ra tù. Đó là một hành động không thể chấp nhận và đi ngược lại với lợi ích của dân tộc Việt Nam, là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam của một số cá nhân, tổ chức đội lốt tổ chức quốc tế để làm những chuyện phi pháp. Hành động của “Trung tâm Văn bút Trung Hoa độc lập” là hành động có chủ ý của một số kẻ đội lốt nhà văn, những người hoạt động văn chương để làm những chuyện phi pháp. Nó đi ngược lại hoàn toàn với tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức này, đó là “hoạt động với mục tiêu bảo vệ quyền tự do ngôn luận của giới cầm bút và bênh vực cho những nhà văn bị cầm tù, đe dọa, khủng bố hay bị quấy nhiễu”.

                                                  
Read more…

Ý nghĩa của việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
 
Người con đất Việt
Ngày 12/11/2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã tiến hành bỏ phiếu bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Theo kết quả bỏ phiếu được công bố Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất (184/192 phiếu) trong số 14 nước và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.
Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc được thành lập năm 2006 với vai trò là cơ quan quốc tế tối cao về quyền con người, chịu trách nhiệm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người trên khắp toàn cầu, hợp tác chặt chẽ và khuyến khích các quốc gia cải thiện nhân quyền.Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 là thành công to lớn trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với việc thực thi và đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa hết sức to lớn. Trong bài viết này tác giả xin nêu ra một số ý nghĩa của việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng này.
Trước hết, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng Nhân quyền thế giới đánh dấu bước tiến mới trong nỗ lực triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định, về phương châm của đường lối đối ngoại: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế khẳng định: “Chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng, tích cực và nâng cao hiệu quả tham gia các diễn đàn các chính đảng; tích cực tham gia các cơ chế hợp tác nghị viện và liên nghị viện khu vực và quốc tế; mở rộng giao lưu nhân dân, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Điều đó, cho thấy việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc - cơ quan quốc tế tối cao về quyền con người là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi quyền con người là giá trị và nguyện vọng chung của nhân loại, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhất quán tôn trọng, bảo đảm quyền con người và chủ trương tăng cường đóng góp và thúc đẩy hợp tác quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực này. Ở Việt Nam, quyền con người được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), quyền con người được quy định tại chương V (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Trong bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đang được trình Quốc hội cho ý kiến và chuẩn bị thông qua thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng (chương II), ngay sau chương về chế độ chính trị (chương I). Bên cạnh đó, trong bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi còn quy định một số quyền mới như quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), quyền sở hữu tư nhân (Điều 32), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36)… Ngoài ra nhiều đạo luật của Nhà nước ta cũng quy định cụ thể việc thực thi quyền con người như Luật tổ chức Quốc hội; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân; Bộ Luật Dân sự; Bộ Luật tố tụng dân sự; Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Luật Báo chí; Luật Xuất bản; Luật khiếu nại, tố cáo của công dân... Trong các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.Những điều này đã khẳng định sự tôn trọng, quyết tâm bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và tư tưởng tôn trọng đối với các quyền này của Đảng, Nhà nước ta.
Thứ ba, đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng. Có thể nói, trong nhiều năm qua, mọi thành tựu của đất nước đều hướng tới người dân. Thậm chí, phát triển kinh tế đất nước có lúc gặp khó khăn, nhưng việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc luôn được thực hiện tích cực, mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân. Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quyền con người ở Việt Nam ngày càng được đảm bảo hiệu quả và đầy đủ. Các chính sách mà Việt Nam đã và đang thực hiện, với con người là trọng tâm, đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống và phúc lợi cho người dân. Đặc biệt, chính sách an sinh xã hội luôn được ưu tiên thực hiện. Đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, người yếu thế trong xã hội… là những đối tượng được chăm lo hàng đầu. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thông tin; quyền làm chủ của công dân;

 vấn đề đảm bảo tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam… cũng luôn được coi trọng. Chính vì vậy, việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là sự ghi nhận những thành tựu trong đảm bảo quyền con người ở Việt Nam của cộng đồng quốc tế, là yếu tố quan trọng thúc đẩy hơn nữa việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân ở Việt Nam và trên thế giới trong những năm tiếp theo.
Thứ tư, thể hiện uy tín và vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Việc Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất (184/192 phiếu) trong số 14 quốc gia (Algeria, Anh, Ả rập Saudi, Cuba, Maldives, Macedonia, Mexico, Morocco, Namibia, Nam Phi, Nga, Pháp, Trung Quốc) trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 là một thành công rất lớn. Tuy nhiên, thành công này không đến một cách ngẫu nhiên, nó thể hiện thế và lực của đất nước đang ngày một vững chắc hơn, là sự tiếp nối của những thành công của Việt Nam trong ASEAN, APEC, ASEM, của việc cộng đồng quốc tế ủng hộ Việt Nam đăng cai Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới năm 2015 và Hội nghị cấp cao APEC năm 2017. Thể hiện uy tín, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đánh giá về việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Trưởng phái đoàn Pakistan tại LHQ Masood Khan nói: “Đây là một thành công kỳ diệu. Tôi xin được chúc mừng chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng như phái đoàn Việt Nam tại LHQ. Kết quả bầu chọn rất ấn tượng, cho thấy uy tín và sức mạnh của Việt Nam trong vai trò một quốc gia đã có những đóng góp vào quá trình thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia quan trọng trong khu vực cũng như trong cộng đồng quốc tế”[1].
Thứ năm, đây là bằng chứng rõ nét nhất để bác bỏ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền của một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam. Trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam không ngừng tìm mọi cách để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trong đó có việc lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Chúng cho rằng Việt Nam không có nhân quyền, quyền con người ở Việt Nam không được đảm bảo. Thậm chí họ còn đưa ra những Bản báo cáo xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPP)… Khi Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thì đã có không ít lực lượng tung lên mạng các phỏng vấn tập trung kích động để giảm uy tín của ta. Khi chúng ta trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc là các thế lực phản động tiếp tục hoạt động ráo riết để tẩy chay, thậm chí dựng lên nhiều vụ việc để vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ về vấn đề vi phạm nhân quyền của chúng ta, nhưng những tiếng nói đấy là những tiếng nói đơn độc và không thể hiện sự thật trong vấn đề bảo đảm quyền con người mà Đảng và Nhà nước ta đã thực thi trong thời gian qua. Thế nhưng các đoàn của quốc tế, đặc biệt là trong đối thoại về vấn đề nhân quyền chúng ta thực hiện với Mỹ, với các nước Bắc Âu, với EU, họ đã vào Việt Nam và đều khẳng định rằng chúng ta có tiến bộ vượt bậc. Như vậy, việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng rõ ràng nhất để bác bỏ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực xấu. Đồng thời là đòn giáng mạnh vào các đối tượng chuyên lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam.


[1] Dư luận hoan nghênh Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền, Vov.vn ngày 13/11/2013.
Read more…

Về cái gọi là “Lời kêu gọi dừng việc thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”


                                                                                            Người con đất Việt
Trong khi Quốc hội đang dành phần lớn thời gian làm việc của kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII để thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì những ngày qua trên một số trang mạng xuất hiện cái gọi là “Lời kêu gọi dừng việc thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của một nhóm người tự xưng là “Những người khởi xướng và hưởng ứng kiến nghị 72”. Theo như thông báo được đăng tải trên các trang mạng này hiện nay đã có khoảng hơn 150 người ký tên ủng hộ lời kêu gọi này.
Theo những người này, việc họ đưa ra lời kêu gọi dừng việc thông qua bản dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013 là bởi vì Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 về cơ bản vẫn như Hiến pháp hiện hành, thậm chí có một số điểm còn thụt lùi hơn trước. Điều đó có nghĩa là vẫn duy trì một nền tảng pháp lý lỗi thời của thể chế toàn trị, là nguồn gốc đã gây ra cho đất nước và nhân dân rất nhiều thảm họa, đặc biệt là cuộc khủng hoảng trầm trọng về chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội mà cả nước đang lâm vào và vẫn chưa có lối thoát. Thậm chí họ còn mạnh miệng cho rằng kể từ ngày tái thống nhất Tổ quốc, chưa bao giờ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị uy hiếp như ngày nay. Kinh tế đất nước chìm ngập trong tham nhũng và nợ nần, lòng dân phân tán, mất lòng tin vào hệ thống cầm quyền…
Đây rõ ràng là những lời xuyên tạc sự thật, một luận điệu cũ, lặp đi lặp lại của những người đội lốt những nhà trí thức, nhà khoa học nhằm thực hiện những mưu đồ chính trị xấu của mình.
Thứ nhất, so với bản Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) thì bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013 có nhiều điểm mới được quy định. Cụ thể như: Trong bản Hiến pháp sửa đổi năm 2001 quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại chương V thì trong bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013, nội dung này được thay đổi thành quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và được quy định ngay ở chương 2 (sau chương 1 quy định về chế độ chính trị). Hơn nữa, trong chương này một số quyền con người đã được bổ sung so với bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001 như quyền mới như quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), quyền sở hữu tư nhân (Điều 32), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36)… Ngoài ra, trong bản dự thảo lần này còn có rất nhiều điểm mới khác như: Việc bảo vệ môi trường được bổ sung vào Chương III bên cạnh quy định về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ. Dự thảo đã bổ sung vào Điều 4 có hai đoạn hết sức quan trọng. Đó là: "Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình" và "Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"… Các chương về bảo vệ Tổ quốc, bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước… đều có những điểm quy định mới. Như vậy, việc quy định nhiều điểm mới trong bản dự thảo Hiến pháp theo hướng tăng quyền lợi cho nhân dân, hướng tới nhân dân là quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Do đó, lập luận cho rằng Hiến pháp sửa đổi năm 2013 không có gì mới, thậm chí còn tụt lùi hơn so với bản Hiến pháp cũ rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt một cách có chủ ý của những con người này.
Thứ hai, những người đưa ra lời kêu gọi cũng như ký tên ủng hộ “Lời kêu gọi” này thực chất cũng chỉ là một số người đội lốt trí thức, nhà khoa học để làm những chuyện bậy bạ mà thôi. Còn với những người là trí thức, nhà khoa học thật nếu cần phải góp ý vấn đề gì thì họ đã đóng góp cho Quốc hội tại các diễn đàn chính thống, không phải dưới dạng đánh bóng tên tuổi, thương hiệu như thế này. Chúng ta hãy nhìn vào danh sách hơn 150 người ký tên ủng hộ lời kêu gọi này thì cũng không thấy có gì mới so với một vài danh sách ký tên phản đối này nọ trên mạng Internet thời gian qua. Vẫn là những cái tên quen thuộc như JB Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Thuỵ, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Trung Tôn, Bùi Tín, Đào Tiến Thi, Vũ Thư Hiên, Lê Hiền Đức, Lê Hiếu Đằng… Với những cái tên này thì xứng đáng để chúng ta tin tưởng lắm sao. Những kẻ chỉ biết ngồi ăn không rồi bốc phét phán này phán nọ. Mà không biết trong số hơn 150 người ký tên ấy có đúng là sự thật hay đây chỉ là trò “đánh trống ghi tên”, mạo danh người khác để làm những chuyện không chân chính mà thôi.

Thứ ba, đây thực chất là ý đồ xấu của một nhóm người có tư tưởng, hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc và đất nước Việt Nam. Chúng ta biết, phần lớn người dân Việt Nam đều đã tích cực hưởng ứng đóng góp ý kiến của mình cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đạo luật cao nhất của Nhà nước. Đa số người dân đều tán thành thông qua bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013. Trong khi đó, Quốc hội cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước đang thảo luận để hoàn tất những công đoạn cuối cùng. Mà những người tham gia công việc này lại chính là những đại biểu do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Hay nói cách khác đây là ý nguyện của đông đảo nhân dân. Thế mà một nhóm người tự xưng này chỉ vì những mục đích xấu xa của mình mà đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Họ xứng đáng phải nhận sự trừng phạt đích đáng của xã hội.
Read more…

BÌNH LUẬN GẦN ĐÂY